Hello world!

Welcome to BCZ. This is your first post. Edit or delete it, then start blogging!

12 Comments

  1. i’m Kathie and I live with my husband and our 3 children in Keflavik, in the NA south area.
    My hobbies are Shooting sport, Dancing and Archery.

    Here is my page gosofaeahbndeeuwigh
    Here is my page .. ……..

  2. Bàn trà sofa mặt kính

    Không gian phòng khách sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu đi một bộ bàn trà sofa đẹp. Ngoài vấn đề bài trí làm sao cho hài hòa về mặt nội thất và hợp phong thủy thì việc sử dụng, bảo quản bàn trà sofa như thế nào cũng rất đáng quan tâm. Để phát huy giá trị sử dụng của món đồ nội thất này thì gia chủ cần phải biết cách vệ sinh sao cho hợp lí. Dưới đây là một số mẹo nhỏ trong cách vệ sinh theo từng loại chất liệu giúp cho bàn trà sofa luôn đẹp như mới.

    Được thiết kế bởi kiến trúc sư người Hà Lan Koen Olthuis cộng tác cùng Arkup – công ty tiên phong về nhà nổi, ngôi nhà như chiếc du thuyền sống động, sử dụng 100% năng lượng ngoài mạng điện lưới. Ngôi nhà còn có những tính năng quản lý rác thải, thu nước mưa và hệ thống làm sạch nước.

    Ngôi nhà có diện tích 404m2 được trang bị 30kW pin mặt trời, 1.000kWh pin lithium-ion và hệ thống cách nhiệt cao cấp. Ngôi nhà nổi cực kỳ an toàn nhờ có hệ thống tự nâng, có thể chịu được gió mạnh, lũ lụt và bão.

    Các chân thủy lực có độ dài 12m giúp ổn định ngôi nhà nổi và thậm chí có thể nhấc chúng ra khỏi mặt nước. Khi cần di chuyển ngôi nhà, hai động cơ điện 136 mã lực có thể đưa cấu trúc này đi xa 7 hải lý.

    Nước mưa được thu gom từ mái nhà và chứa trong các thân tàu. Sau đó, nước được tinh chế thông qua hệ thống làm sạch nhằm đảm bảo khả năng tự cung cấp và xử lý nước của ngôi nhà. Một mặt sàn có độ dốc thêm không gian ngoài trời tích hợp cho ngôi nhà. Không gian này được bao quanh bởi các tấm kính chống sốc nằm trong hệ thống truyền thông thông minh (bao gồm truyền hình vệ tính và wifi, LTE và VHF) cho phép ngôi nhà duy trì sự kết nối liên tục.nguồn: wikigosofa

  3. Nhiều kiến trúc sư cho rằng trụ sở chính quyền xã cần gần gũi với người dân, mang bản sắc văn hóa và phù hợp với cảnh quan xung quanh.

    Trước đề xuất khoác “đồng phục” cho gần 500 trụ sở xã, phường, thị trấn của Sở Xây dựng TP Hà Nội, một số kiến trúc sư, nhà văn hóa đã lên tiếng.

    Nên làm nhiều mẫu phù hợp từng vùng
    KTS Nguyễn Thanh Tùng, Hội kiến trúc sư Việt Nam, cho rằng việc “đồng phục” trụ sở cấp xã phường ở Hà Nội có ưu điểm là thuận lợi trong nhận diện, người dân nhìn vào kiến trúc, màu sắc sẽ biết đó là trụ sở hành chính. Bên cạnh đó, chỉ cần vẽ một bản thiết kế sau đó nhân bản ra thực hiện với nhiều công trình sẽ giúp tiết kiệm được chi phí thiết kế.

    Một mẫu thiết kế kiến trúc trụ sở UBND xã phường được đưa ra lấy ý kiến. Nguồn: HRAP.
    Tuy nhiên, việc “đồng phục” sẽ làm mất đi bản sắc vùng miền. Thủ đô có những xã ở miền núi, xã có nhiều di tích, di sản thì kiến trúc phải có yếu tố bản địa ở đó. Tương tự, với các phường ở nội thành, kiến trúc lại cần phù hợp với cảnh quan của đô thị hiện đại.

    “Không nên chỉ vẽ một mẫu rồi đặt vào tất cả xã phường. Kiến trúc phải gắn với địa hình, văn hóa và mang tính bản địa”, KTS Tùng nói.

    Ông đề xuất, với đặc thù thủ đô có nhiều khu vực, địa hình nên làm nhiều mẫu thiết kế đại diện cho mỗi khu vực. Các mẫu vẫn thể hiện được sự nghiêm minh của luật pháp, nhưng cũng phải thân thiện với người dân.

    “Đồng phục” trụ sở có thể gây lãng phí
    KTS Trần Huy Ánh, Hội kiến trúc sư Hà Nội, cho hay sáng 25/9 Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội có cuộc họp về 10 năm văn hóa nghệ thuật xứ Đoài, xứ Đông và các đại biểu đều nói đến bản sắc văn hóa vùng miền. 500 xã phường ở 500 vị trí và mỗi nơi đều gắn với văn hóa bản địa ở đó.

    “Không thể lấy nhà văn hóa rộng rãi có đồi, có núi, có cảnh quan thiên nhiên, tập tục văn hóa của Ba Vì nhét vào giữa phố Hàng Bài và ngược lại”, KTS Ánh nói và cho rằng thế giới đang phát triển theo hướng thống nhất trong đa dạng chứ không phải đồng nhất văn hóa. Việc đề xuất “đồng phục” trụ sở xã phường là cách nghĩ “rất cũ và lãng phí”, không đem lại lợi ích văn hóa, kinh tế.

    Kết quả khảo sát trên VnExpress cho thấy đa số bạn đọc không đồng tình việc “đồng phục” trụ sở xã, phường.
    Cũng theo KTS Trần Huy Ánh, Hà Nội còn nghèo, còn nhiều công trình cần đầu tư xây dựng nên cần cân nhắc kỹ trong việc xây dựng, cải tạo trụ sở cơ quan công quyền. “Đây không phải tiền của cá nhân mà là ngân sách nên tất cả sáng kiến như trên phải giải trình rõ ràng với xã hội về mặt lợi ích, văn hóa, kinh tế và mục đích cuối cùng để làm gì”, KTS Ánh nói.

    Một mẫu thiết kế gây sự đơn điệu, nhàm chán
    Am hiểu văn hóa Hà Nội, nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến cho rằng “việc mặc đồng phục cho các công sở hành chính cấp phường xã là không cần thiết”. Phần lớn công sở trước năm 1954 có kiến trúc đa dạng, tùy theo điều kiện đất đai, địa lý có thiết kế kiến trúc phù hợp. Nếu chính quyền nhất thể hóa một mẫu thiết kế, áp cho tất cả trụ sở hành chính cấp xã sẽ làm mất đi sự đa dạng, uyển chuyển của đô thị, mất cơ hội cho kiến trúc sư thể hiện khả năng sáng tạo.

    Ông nêu ví dụ, có những phường xã do điều kiện đất đai không có nhưng lại phải theo một mẫu vậy có nên không? Cũng có nơi điều kiện cho phép xây dựng trụ sở hành chính làm điểm nhấn văn hóa, kiến trúc khu vực đó thì sẽ ứng xử ra sao?

    Nói về việc Hà Nội từng “đồng phục” trụ sở công an phường, nhà văn cho rằng công an có đặc thù riêng, là đơn vị quản lý an ninh trật tự nên việc nhất thể hóa một kiến trúc, màu sắc là phù hợp. “Người dân nhìn vào trụ sở công an thấy được sự uy nghi, tôn nghiêm của cơ quan thực thi pháp luật“, ông Tiến nói.

    Đề cập việc thành phố từng có chủ trương đồng nhất màu sơn khu vực Hồ Gươm và một số tuyến phố phụ cận, ông Tiến cho rằng dù nhà sở hữu của cá nhân hay công trình công cộng nhà nước, để phục vụ một ý đồ kiến trúc cảnh quan khu vực đó thì chính quyền có thể can thiệp.

    “Nhưng trụ sở hành chính cấp xã nên là nơi thân thiện, gần gũi với người dân, kiến trúc cần mềm mại và không nên đồng nhất“, nhà văn nêu quan điểm.

  4. Tại các đô thị lớn như thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), vấn đề nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư luôn là một thách thức. Những hình ảnh đối lập giữa những tòa nhà cao tầng hiện đại với những khu ổ chuột, những chung cư cũ, những dãy nhà trọ lụp xụp hay những hình ảnh của những đứa trẻ sống chui ở gầm cầu,… cho thấy vấn đề nhà ở của đối tượng này chưa được chính quyền thành phố giải quyết tốt. Dân cư TP. HCM đa số là lao động nhập cư và sinh viên đến từ các tỉnh có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, khi đến đây làm việc và sinh sống, họ phải đi thuê nhà, thuê phòng trọ cũ để tiết kiệm chi phí. Những căn nhà, phòng thuê này thường tối tăm, ẩm ướt hoặc chật hẹp, thiếu an toàn, thậm chí những người vô gia cư phải lang lang ở các ghế đá công viên, ở các bến xe, hay ở dưới chân cầu để tìm chỗ ngả lưng lúc đêm về. Bài viết này được thực hiện nhằm đưa ra các giải pháp tận dụng không gian trống dưới chân cầu vượt để làm nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư tại TP. HCM.

    Tại TP. HCM, với mật độ xây dựng cao và công trình xây dựng dày đặc thì việc đảm bảo đáp ứng nhu cầu về nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư luôn là một thách thức đối với chính quyền thành phố. Thành phố ngày càng phát triển theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, kéo theo sự gia tăng dân số cơ học một cách nhanh chóng, đặt ra vấn đề về nhà ở, đất ở và tận dụng hợp lý không gian trống trong đô thị. Trong khi đó, còn nhiều không gian bỏ trống gây lãng phí và chưa được quan tâm khai thác một cách thiết thực. Những không gian trống đó có thể là khoảng trống giữa các công trình, không gian dưới chân cầu vượt, không gian trống trong công viên, chợ dân sinh… Xuất phát từ mong muốn tạo thêm những nơi ở cho người nghèo và người vô gia cư tại thành phố, nhóm nghiên cứu đã tìm hiểu thực trạng nhà ở đô thị để từ đó đưa ra các giải pháp kiến trúc để giúp người nghèo có được nhà ở đáp ứng yêu cầu vệ sinh môi trường, y tế, an ninh, và giao thông.

    Về phương pháp thực hiện, nhóm tác giả đã tìm hiểu thực trạng các không gian trống tại TP. HCM, như không gian dưới chân cầu vượt Phú Mỹ (Hình 1, 2), tuyến Metro, không gian trống trong công viên Lê Văn Tám, công viên Phú Lâm,… So sánh kiểm chứng với những công trình nhà ở cho người nghèo tại các nước trong khu vực. Qua đó, nhận thấy nhu cầu nhà ở cho người nghèo tại TP.HCM rất lớn và có xu hướng tăng lên từng năm do tình trạng dân nhập cư, quỹ đất xây dựng nhà ở luôn khó khăn, giá nhà đất quá cao so với thu nhập của người lao động nghèo, đặc biệt là người vô gia cư.

    Không gian để trống và ít sử dụng tại chân cầu vượt Phú Mỹ, Quận 7, TP. HCM.
    (Nguồn: nhóm tác giả, 2018

    Hình 3: Cầu vượt Phú Mỹ – Khu vực thiết kế thử nghiệm.
    (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)
    Kinh nghiệm trong khu vực
    Tại HongKong, người lao động nghèo thường sinh hoạt trong các căn hộ chật hẹp, với tên gọi “nhà quan tài” hay “nhà chuồng cọp”. Trước nhu cầu thực tiễn đó, các kiến trúc sư và nhà đầu tư đã chú ý tới xu hướng “nhà ở vi mô toàn cầu” để tạo ra những giải pháp phù hợp nhu cầu của người dân nghèo. Một trong số đó là kiểu “nhà ống cống” tên là O-Pod. Chính quyền thành phố đã tận dụng những khoảng đất trống khắp HongKong, những ngôi nhà O-Pod có thể được đặt bất cứ đâu – từ dưới đường cao tốc đến những không gian trống trong công viên hay thậm chí những chiếc ống cống có thể xếp chồng lên không gian trống trên sân thượng một tòa nhà nhằm tiết kiệm diện tích. Mỗi chiếc ống cống được xếp chồng lên nhau tại các mảnh đất chưa được sử dụng, cung cấp chỗ ở tạm thời cho những người đang tìm kiếm nơi ở có mức giá phải chăng. Nhà ống cống gồm ống nước bê tông đường kính 2,5m, được trang bị các vật dụng thiết yếu bên trong, với diện tích sàn rất nhỏ chỉ 9,3m2. Bên trong nhà ống cống, kiến trúc sư thiết kế căn hộ mini với đầy đủ nội thất cần thiết, từ giường sofa gấp, kệ đựng đồ, phòng tắm với nhà vệ sinh, lò vi sóng và điều hòa nhiệt độ (Hình 4-7). Mỗi căn hộ có tải trọng khoảng 20 tấn, có giá khoảng 15.000 USD (tương đương 340 triệu đồng).

    Nhà ống cống đặt tại khoảng trống dưới chân cầu gần giao lộ (ảnh trái), Nhà ống cống đặt tại khoảng trống giữa hai nhà (ảnh phải) (Nguồn: viettimes.vn)

    Nhà ống cống đặt tại khoảng trống phía trên công trình (ảnh trái), Không gian bên trong nhà ống cống(ảnh phải) (Nguồn: viettimes.vn)
    Đề xuất giải pháp thiết kế
    Ý tưởng chính là tận dụng thùng container đã qua sử dụng để làm nhà ở cho người nghèo. Loại nhà ở tận dụng container đã xuất hiện nhiều trên thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam vẫn chưa được quan tâm khai thác. Thùng container có thể làm nhà ở có kích thước cơ bản là: Dài 6,06 mét, rộng 2,44 mét, cao 2,59 mét. Với chiều cao và chiều rộng như vậy, có thể linh hoạt để tạo ra các không gian ở. Trên qui mô khu nhà ở, tổ hợp các thùng container để tạo nên các module nhà ở, trong đó mỗi module bao gồm: khu vực ngủ với 2 giường tầng, khu vực bếp và khu vực sinh hoạt đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho người sử dụng.

    Do đặc điểm không gian bên dưới chân cầu vượt khá dài và cao, gồm nhiều nhịp lớn nên hoàn toàn có thể bố trí một khu ở tại mỗi nhịp cầu. Trong mỗi khu ở, sẽ bố trí hành lang đi lại, có khoảng sân chung để sinh hoạt và các lối giao thông đứng (nếu khu ở có nhiều tầng). Do ảnh hưởng của giao thông hai bên chân cầu nên lối giao thông vào trong mỗi khu ở chỉ có thể tiếp cận ở giữa nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Để đảm bảo việc tiết kiệm không gian và đảm bảo an ninh – an toàn bên trong khu ở thì người sử dụng sẽ để xe tập chung tại bãi giữ xe.

    Đối với mỗi nhịp cầu từ 18 – 22 mét, bố trí một bãi đậu xe cho 3 – 5 khu ở, diện tích mỗi bãi đậu xe có thể bằng một nhịp cầu. Tại mặt tiếp giáp đường giao thông sẽ có hành lang nhỏ ngăn cách với đường giao thông bên ngoài, trồng cây xanh để cải thiện chất lượng không khí, cản bụi cho các ngôi nhà phía trong.

    Nguyên tắc sắp xếp các module là tạo ra những không gian linh hoạt, không quá dày đặc nhằm đảm bảo độ thông thoáng cho bên trong khu ở, các khu nhà có khả năng di chuyển được, không bị cố định vào một nhịp cầu cụ thể. Do phía dưới chân cầu ít bị tác động của nắng và mưa, đồng thời cần có những giải pháp chống nóng, mưa tạt.

    Phương án tổ hợp 14 thùng container
    Tầng 1 (Trệt) lấy lối đi ở giữa để phân chia thành 2 khối, mỗi khối gồm 4 module trong đó chỉ có 2 module giữa liền kề nhau tạo ra 2 khoảng sân chung cho mỗi 2 module. Tầng 2 gồm 2 khối, mỗi khối chỉ có 3 module được xếp vuông góc với module ở tầng 1 và không che phần lối đi ở giữa. Lối lên tầng 2 là 4 chiếc cầu thang được bố trí bên ngoài.
    Ưu điểm: tạo được sự thông thoáng, tận dụng được nhiều ánh sáng tự nhiên hơn cho khu ở.
    Nhược điểm: bố trí được ít module hơn.

    Mặt bằng bố trí thùng container trong không gian trống dưới chân cầu vượt.
    (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)

    Sơ đồ ghép khối thùng container tận dụng không gian trống dưới chân cầu vượt.
    (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)

    Bản vẽ mặt bằng tầng trệt khu nhà ở tại cầu Phú Mỹ, Quận 7, TP. HCM (ảnh trái), Bản vẽ mặt đứng trích đoạn và mặt cắt ngang khu nhà ở tại cầu Phú Mỹ, Quận 7, TP. HCM (ảnh phải) (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)

    Phối cảnh khu nhà ở tại cầu Phú Mỹ, Quận 7, TP. HCM (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)

    Bố trí không gian bên trong container làm nhà ở (Nguồn: nhóm tác giả, 2018)
    Thay lời kết
    Ý tưởng tận dụng không gian trống trong đô thị làm nhà ở cho người nghèo mang giá trị kinh tế và xã hội to lớn, nếu được thí điểm áp dụng sẽ đem lại hiệu quả thiết thực trong việc đáp ứng nhu cầu chỗ ở cho người dân nghèo tại TP.HCM. Rõ ràng, những giải pháp tận dụng không gian trống trong đô thị làm nhà ở cho người nghèo sẽ mang lại lợi ích về an sinh xã hội, cải thiện chất lượng cuộc sống, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho những người dân nghèo và cho cộng đồng dân cư trong đô thị.

    Về biện pháp thúc đẩy, nhóm tác giả kiến nghị chính quyền thành phố cần triển khai các mô hình nhà ở theo dự án và cho phép các quận huyện sử dụng không gian trống để làm khu nhà ở cho người nghèo. Ngoài ra, kêu gọi các chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội không phải nguồn vốn nhà nước, hoặc vốn doanh nghiệp đã được ưu đãi từ nhà nước để thuyết phục họ tham gia các dự án phát triển nhà ở nêu trên. Với các biện pháp tổng hợp nêu trên, nhóm tác giả tin tưởng sẽ góp phần giảm áp lực về nhu cầu và cải thiện chất lượng nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư tại TP.HCM trong thời gian tới.

  5. Đuối” đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông theo quy hoạch và tốc độ phát triển đô thị
    Trong thời gian vừa qua, việc ùn – tắc nghẽn quả tải hạ tầng đô thị, bao gồm hạ tầng giao thông tại các đô thị lớn luôn được xem là vấn đề nóng bởi những ảnh hưởng trực tiếp và cuộc sống của người dân, quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đô thị. Các nguyên nhân phần lớn đều mới chỉ dừng ở quy trách nhiệm đánh đồng cho công tác quy hoạch nói chung.Trong khi thực tế cho thấy rõ trong thời gian qua dù công tác quy hoạch đô thị và hạ tầng đô thị đã được thực hiện cơ bản đồng bộ, cùng với khả năng“bùng nổ” cấp phép xây dựng công trình cao tầng khu vực nội đô theo quy hoạch, tốc đô gia tăng tập trung dân cư và phương tiện giao thông khu vực nội đô và với tốc độ nhanh “chóng mặt”, việc chậm trễ triển khai đầu tư xây dựng sau quy hoạch, đặc biệt là với hệ thống hạ tầng giao thông đô thị có thể được xem là một trong những nguyên nhân chính tạo nên những bất cập về quá tải hạ tầng, mà biểu hiện dễ thấy nhất chính là tình trạng ùn ứ – tắc nghẽn giao thông nghiêm trọng tại các đô thị thời gian qua.

    Hình 1: Bùng nổ tình trạng kẹt xe tại khu vực trung tâm đô thị TPHCM (Nguồn ảnh: Internet).
    Với riêng TPHCM, theo số liệu báo cáo gần đây nhất của Sở GTVT TPHCM ngày 14/09/2018, dù đã giảm xuống nhưng toàn đô thị vẫn còn tồn tại 34 điểm nguy cơ ùn tắc giao thông. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, nguyên nhân từ quản lý và triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông theo quy hoạch đang là vấn đề chính cần được xem xét và giải quyết.

    Cụ thể, tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị TPHCM hiện chỉ đạt 8,85% tương đương gần 40% khối lượng so với chỉ tiêu quy hoạch (là 22,3% trên tổng diện tích đất đô thị). Tổng chiều dài các tuyến đường khoảng 4262 km, chỉ mới đạt mật độ 2,03 km/1 km2 chỉ xấp xỉ bằng 15% so với chỉ tiêu quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam, và chỉ bằng khoảng 50% so với một số quốc gia trong khu vực. 3 trong số 6 tuyến cao tốc theo quy hoạch là Cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu dài 76 km, TPHCM – Thủ Dầu Một – Chơn Thành dài 69 km với 6 -8 làn xem, TPHCM – Mộc Bài (Tây Ninh) dài 55 km với 4 -6 làn xe với tổng chiều dài 200 km trên tổng số 365 km (tương đương 55% khối lượng) chưa có chủ trương thực hiện. Trong số 03 tuyến vành đai (Vành đai 2, 3,4) với tổng chiều dài 351 km, chỉ có đường vành đai 2 mới đầu tư thực hiện được 54,6 km/ 64 km toàn tuyến, các trục đường vành đai 3, 4 còn đang trong giai đoạn nghiên cứu đầu tư.

    Hình 2: Quy hoạch tổ chức hệ thống giao thông đường vành đai, đường trục và đường xuyên tâm đô thị TPHCM (Nguồn ảnh: Internet).
    Các trục xuyên tâm như trục đại lộ Đông Tây, trục Bắc Nam đều mới hoàn thiện ở mức rất thấp như mới hoàn thành đoạn Mai Chí Thọ – Võ Văn Kiệt dài 23,4 km/30,7 km bằng xấp xỉ 76% khối lượng toàn tuyến trục Đông Tây, đoạn Nguyễn Văn Linh đến khu CN Hiệp Phước dài 7,9 km bằng xấp xỉ 23,2% khối lượng 34 km chiều dài toàn tuyến trục Bắc Nam, đồng thời do chưa hoàn chỉnh nên các trục tuyến trên cũng thiếu tính kết nối đồng bộ với hệ thống giao thông toàn thành phố.Các tuyến hướng tâm như quốc lộ 50 đoạn từ vành đai 2 đến thị trấn Cần Giuộc đoạn qua TPHCM (dài khoảng 8,6 km) cũng chưa được đầu tư. 05 tuyến đường trên cao tổng chiều dài 70,7 km theo quy hoạch hiện vẫn còn đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Hệ thống đường sắt đô thị, BRT gồm 8 tuyến với tổng chiều dài 172,6 km mới chỉ đang thi công tuyến số 1, các tuyến còn lại đầu đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư thậm chí còn đang mời gọi vốn đầu tư. Về diện tích giao thông tĩnh, hệ thống bến bãi tại TPHCM đạt 149,9 ha, đạt tỷ lệ 17% so với chỉ tiêu quy hoạch tại Quyết định 568/QĐ TTg là 1145,88 ha (trong đó tất cả các chỉ tiêu thành phần bao gồm diện tích bến xe buýt, bến xe ô tô chỉ đạt chưa đến 20%, đặc biệt bãi đỗ xe ô tô, xe taxi chỉ đạt 4 ha bằng xấp xỉ 1% so với quy hoạch được duyệt.

    Hình 3: Tại TPHCM, tuy phát triển mới một số trục tuyến giao thông đô thị nhưng còn chậm về tiến độ và thiếu về khối lượng so với số lượng theo quy hoạch cũng như tốc độ phát triển nhà cao tầng đô thị. (Nguồn ảnh: Internet).
    Thực tế trên tại TPHCM cũng đang xảy ra tương tự với các đô thị lớn khác trên khắp cả nước. Dựa trên các số liệu thống kê, nhiều chuyên gia chuyên ngành đánh giá việc triển khai đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đô thị, đặc biệt là hạ tầng giao thông mới chỉ đạt tỷ lệ “khiêm tốn” 30 – 40 % khối lượng theo quy hoạch định hướng. Điều này đang cho thấy một thực trạng đáng báo động, khi quy hoạch không gian đã được thực hiện với các dự báo và chỉ tiêu định hướng, cùng với đó là việc cấp phép xây dựng công trình bao gồm cả các công trình cao tầng trong khu vực nội đô được triển khai “bùng nổ” theo quy hoạch, nhưng tỷ lệ đầu tư xây dựng phát triển hệ thống hạ tầng giao thông đô thị theo quy hoạch quy hoạch “thấp một cách đáng ngại”sẽ làm phá vỡ tính bền vững trong phát triển đô thị, và cần sớm có những định hướng và giải pháp đồng bộ.

    Cần một định hướng và giải pháp đồng bộ
    Theo quy định pháp luật, hệ thống quy hoạch đô thị các cấp luôn được xem là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý phát triển đô thị và cấp phép xây dựng. Rất nhiều kinh nghiệm quốc tế đã chỉ rõ phát triển đô thị bền vững luôn đòi hỏi sự phát triển đồng bộ giữa quy hoạch và triển khai đầu tư xây dựng theo quy hoạch, trong đó phát triển hệ thống giao thông là một trong những chỉ tiêu then chốt. Rất cần xây dựng một định hướng và lộ trình thực hiện với các giải pháp đồng bộ, để quy hoạch đô thị đã được phê duyệt (bao gồm cả quy hoạch hệ thống giao thông đô thị) được triển khai vào thực tế theo sát với các yêu cầu thực tiễn phát triển đô thị cả về khối lượng và tiến độ, đồng thời sử dụng có hiệu quả vốn và các nguồn lực xã hội.

    Cần đổi mới công tác quản lý phát triển đô thị để triển khai đồng bộ đầu tư xây dựng đô thị theo quy hoạch, hợp lý cả về khối lượng và tiến độ giữa xây dựng công trình – nhà ở với hạ tầng đô thị, hạ tầng giao thông.Tăng cường tính kết nối giữa quy hoạch xây dựng và quy hoạch giao thông để giảm thiểu độ “vênh”không đáng có giữa 2 quy hoạch chuyên ngành.

    Từ thực tiễn phát triển, xây dựng các định hướng phát triển đô thị theo hướng “từ ngoài vào trong” trong đó phát triển công trình cao tầng tại các vị trí bên ngoài khu vực nội đô với đủ năng lực đáp ứng về hạ tầng giao thông. Không hạn chế xây dựng công trình cao tầng trong khu vực nội đô lịch sử một cách cứng nhắc nhưng chỉ xem xét cấp phép xây dựng công trình cao tầng ở các vị trí có sự phát triển hạ tầng giao thông theo quy hoạch (như có quy hoạch mở rộng đường, xây dựng thêm hệ thống giao thông công cộng (đường sắt đô thị, BRT)… theo đúng tiến độ hiện trạng phát triển hạ tầng khu vực. Hạn chế tình trạng phê duyệt dự án theo bản đồ quy hoạch trên giấy, nhưng xa rời hiện trạng phát triển hạ tầng đô thị thực tế, gây chất tải cho hạ tầng đô thị.

    Từ các vấn đề thực tiễn tại các đô thị Việt Nam hiện nay cũng như kinh nghiệm từ Hoa Kỳ cũng cho thấy, để sử dụng và khai thác tiết kiệm nguồn lực, đảm bảo công bằng, sử dụng công cụ đánh giá tác động giao thông (Transport Impact Assessment – TIA) đối với từng dự án xen cấy công trình cao tầng nội đô, đồng thời có các chính sách bắt buộc chủ đầu tư dự án tham gia đóng góp phát triển hạ tầng đô thị tại vị trị khu vực xây dựng dự án, đảm bảo khi xây dựng công trình cao tầng đồng thời có sự tăng cường mở rộng khả năng vận chuyển của hệ thống giao thông đô thị tại khu vực, tránh tình trạng sử dụng tràn lan vốn ngân sách đê mở đường trong khi các chủ đầu tư xây dựng công trình cao tầng thu lợi nhuận cao nhưng chất tải lên hệ thống hạ tầng đô thị hiện hữu, tác động xấu đến sự phát triển bền vững của đô thị.

  6. Showroom về sản phẩm, giải pháp và thiết bị nhà bếp cao cấp hàng đầu Đông Nam Á với 3.500m2 của Malloca được khai trương tại số 10 Chương Dương Độ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

    Khách hàng đến tham quan showroom có cơ hội khám phá và trải nghiệm không gian nội thất hiện đại với hơn 500 mẫu thiết bị bếp.

    Cùng với giải pháp của An Cường về vật liệu, giải pháp và nội thất làm từ gỗ công nghiệp lớn nhất VN và khu vực Đông Nam Á cùng phụ kiện nội thất Hettich (Đức), phụ kiện cửa Imundex (Đức), giải pháp căn hộ thông minh Eco-Building Schneider Electric (Pháp), Tất cả được ứng dụng thực tế vào căn hộ mẫu 2 phòng ngủ, 03 phòng ngủ… đáp ứng không gian sống hoàn hảo, trở thành điểm đến “One-Stop Shopping Center” – nơi trải nghiệm các giải pháp, khám phá không gian sống đáng mơ ước của khách hàng.

    Nhân dịp khai trương, từ 15/8/2018 đến hết 15/9/2018, giảm 10% trên tổng hóa đơn cho chủ thẻ Techcombank Visa khi mua sắm tại Malloca One-Stop Shopping Center đồng thời trả góp 0% lãi suất thẻ tín dụng Techcombank Visa cùng nhiều quà tặng hấp dẫn lên đến 21 triệu.

  7. Xuất hiện từ những năm 1970, Minimalism được xem là một nhánh của phong cách đương đại. Nó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các lĩnh vực như thời trang, âm nhạc, nhiếp ảnh, đồ họa,.. và kiến trúc – nội thất cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Hãy tìm hiểu Minimalism có ảnh hưởng như thế nào tới kiến trúc và thiết kế nội thất nhé!

    Minimalism là gì?
    Phong cách Minimalism (tối giản, tối thiểu) là một phong cách thể hiện những khuynh hướng đa dạng của nghệ thuật, đặc biệt trong nghệ thuật thị giác và âm nhạc mà các tác phẩm được tối giản vể những yêu cầu thiết yếu nhất của nó.

    Phong cách tối giản xuất phát trong nghệ thuật phương Tây từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2, rõ nét nhất là trong nghệ thuật thị giác với các tác phẩm hội họa của Mark Rothko. Khái niệm này dần dần được mở rộng để bao hàm cả những khuynh hướng trong âm nhạc mà đặc điểm là sự lặp lại, điển hình là các tác phẩm của Steve Reich, Philip Glass và Terry Riley. Phong cách tối giản có nguồn gốc bắt rễ từ sự thuần khiết và cô đọng của chủ nghĩa Hiện đại, được kết hợp với chủ nghĩa Hậu hiện đại và được xem như phản ứng đối ngược lại với chủ nghĩa Biểu hiện trong nội dung cũng như trong bố cục tác phẩm.

    Phong cách Minimalism trong kiến trúc
    Tối giản – có thể hiểu là đi đến tận cùng của sự đơn giản, đơn giản hết mức có thể. Phong cách tối giản có ảnh hưởng rộng lớn ở khắp các bộ môn nghệ thuật, các ngành thiết kế – sáng tạo. Phong cách tối giản có mặt trong hội hoạ, âm nhạc, nhiếp ảnh, đồ hoạ, tạo dáng công nghiệp, thời trang,… và tất nhiên trong cả kiến trúc – khi mà kiến trúc vẫn gần gũi với những bộ môn nghệ thuật kinh điển.

    Kiến trúc sư người Đức Ludwig Mies van der Rohe (1886 – 1969_ – một trong những bậc thầy của kiên trúc hiện đại thế giới, được coi là cha đẻ của phong cách kiến trúc tối giản. Quan điểm của ông thể hiện ở câu châm ngôn “Less is more” (tạm dịch: ít là nhiều, càng ít càng tốt). Những công trình trong thời gian này của Mies van der Rohe đã đặt nền móng cho phong cách kiến trúc tối giản với những quan điểm mới về việc tổ chức không gian kiến trúc, với kết cấu, vật liệu mới là thép và kính. Sau những biến động của chính trị, thời cuộc ở châu Âu, ông chuyển sang sinh sống và làm việc tại Mỹ vào năm 1937, tiếp tục theo đuổi trường phái kiến trúc của mình. Kiến trúc của Mies van der Rohe là những không gian trong sạch, đơn giản, tinh tế, trật tự: là những đường thẳng, những mặt phẳng, những góc vuông,… bộc lộ rõ cấu trúc của hệ thống kết cấu.

    Hội trường Crown – Ludwig Mies van der Rohe

    Farnsworth House – Ludwig Mies van der Rohe
    Ở phương Đông, Nhật Bản được coi là bậc thầy của phong cách tối giản trong kiến trúc.Phong cách này hiện diện trong phần lớn kiến trúc Nhật Bản, từ kiến trúc hiện đại cho tới những công trình mang âm hưởng truyền thống. Tính tối giản thể hiện nhất quán từ hình thức kiến trúc cho tới nội thất công trình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa một khuynh hướng hiện đại với những giá trị văn hoá – tinh thần truyền thống của Nhật Bản. Nhiều kiến trúc sư Nhật Bản thành công và ghi đậm dấu ấn với phong cách tối giản, chủ nghĩa tối giản trong kiến trúc, mà tiêu biểu là kiến trúc sư Tadao Ando. Những công trình của Tadao Ando thực sự là những tác phẩm nghệ thuật của không gian và ánh sáng, của sự giao hoà của kiến trúc và thiên nhiên, mang một cá tính đặc sắc và đầy sáng tạo.

    Công trình nhà ở cực kì ấn tượng qua sự thiết kế của kiến trúc sư Tadao Ando

    Nhà 4 – 4m bên bờ biển – Kts. Tadao Ando

    Bảo tàng nghệ thuật hiện đại – Kts. Tadao Ando
    Những đặc điểm cơ bản của Minimalism trong kiến trúc
    Less is more – đó là sự khởi nguồn, tư tưởng, triết lý, là nguyên tắc chủ đạo mà kiến trúc sư Mies van der Rohe đã đề ra. Đối ngược lại với trường phái cổ điển và nhiều trường phái khác làm đầy, làm đẹp, làm hoàn thiện kiến trúc bằng những chi tiết, bằng trang trí nội thất; kiến trúc tối giản tự hoàn thiện bằng những gì ít nhất có thể – đó chính là nhiều. Ít nhất, cũng là hướng tới sự hoàn mỹ và thành công. Từ xuất phát đó, thì “hạn chế” là một trong những nguyên tắc – biểu hiện cụ thể của kiến trúc tối giản.

    Hướng tới giá trị của không gian – bản chất của kiến trúc là không gian. Kiến trúc tối giản hướng tới giá trị đó và tạo lập không gian chặt chẽ, khúc chiết, cô đọng, thoáng đãng, tràn ngập ánh sáng. Sự đơn giản của hình thức tổng thể, chi tiết kiến trúc, sự tiết chế trong sử dụng vật liệu, màu sắc… nhằm đem lại tính tập trung vào không gian và đưa không gian thành nội dung chủ đạo của công trình. Không gian của kiến trúc tối giản có tính cân bằng, tĩnh tại, thuần khiết, được tạo nên bởi những mảng tường, mảng trần phẳng, đồng nhất, những đường thẳng, những hình khối đơn giản và những khoảng trống lớn. Việc loại bỏ, hạn chế các chi tiết, màu sắc, những thứ không cần thiết nhằm hướng sự tập trung cho không gian kiến trúc. Chính không gian tạo nên xúc cảm chứ không phải bởi những chi tiết trang trí, đồ đạc hay điều gì khác.

    Tạo hình kiến trúc và màu sắc đạt đến sự tối giản

    Đặt sự đơn giản của công trình vào cảnh sắc rực rỡ của thiên nhiên tạo nên sự hòa quyện mà độc đáo
    Hướng tới bản chất và bản ngã: về mặt hình thức thuần tuý, có thể nhận thấy kiến trúc tối giản mang lại sự khô cứng, nhàm chán và đơn điệu, thậm chí lạnh lùng và thiếu thân thiện. Nhưng bản chất của kiến trúc không nằm ở cái vỏ bề ngoài. Và để cảm nhận được điều đó, ngoài đôi mắt để nhìn, phải cần có một tư duy rộng mở, khám phá. Một kiến trúc sẽ tối giản khi chủ nhân hiểu rõ được bản ngã của mình, và kiến trúc sư chuyển hoá bằng ngôn ngữ kiến trúc. Và cũng chỉ khi hiểu rõ chính mình thì chủ nhân mới thực sự làm chủ và gắn bó được với ngôi nhà.

    Không gian như ngừng chuyển động với phong cách Minimalism

    Kiến trúc tối giản có sự tương đồng với văn hoá truyền thống và Thiền tông Nhật Bản (Zen). Zen nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự trầm tư mặc tưởng hơn là việc đọc kinh kệ và các nghi thức tôn giáo cũng như lý luận về giáo pháp. Zen truyền tải những tư tưởng tự do và bản chất cuộc sống. Kiến trúc tối giản hướng tới bản chất của kiến trúc là không gian, đề cao bản chất của không gian và vật liệu. Chính vì lẽ đó, kiến trúc tối giản hoà nhập với văn hoá truyền thống Nhật Bản, tạo nên những không gian mang tính Thiền và những giá trị văn hoá mới thông qua kiến trúc.

    Những ngôi nhà Nhật Bản với lối kiến trúc Minimalism
    Nghệ thuật ánh sáng: ánh sáng là một yếu tố cấu thành nghệ thuật kiến trúc. Với kiến trúc tối giản, ánh sáng rất quan trọng và càng có ý nghĩa hơn, nhất là ánh sáng tự nhiên. Màu sắc ở phong cách tối giản hạn chế nên ánh sáng là một thành phần chủ đạo để trang trí và tạo nên giá trị thẩm mỹ thông qua hiệu ứng thị giác. Ánh sáng tự nhiên luôn biến đổi và làm thay đổi những cảm nhận, cảm xúc của người đứng trong không gian đó. Ánh sáng được chủ định trong thiết kế để nhấn mạnh những thành phần, những khu vực chính; làm nổi bật hình khối kiến trúc, nội thất; dùng để dẫn tuyến hoặc tạo nên những khối sáng, bóng đổ theo ý đồ… Ánh sáng cùng hiệu ứng bóng đổ được khai thác thông qua những ô cửa, những vách kính, mái, những khoảng trống, những cấu kiện của hệ kết cấu, qua hệ thống rèm hay cả những tán cây. Ánh sáng nhân tạo cũng được nghiên cứu rất kỹ, tính toán cẩn thận trong ý đồ diễn tả cấu trúc không gian và những thành phần nội thất.

    Những đường nét kiến trúc trở nên ấn tượng với sự bổ trợ của nguồn sáng tự nhiên và ánh sáng nhân tạo
    Phong cách tối giản trong thiết kế nội thất
    Phong cách bố trí nội thất “minimalist” hiện đang rất được ưa chuộng bởi sự giản dị và tinh tế trong không gian mà nó mang lại. Phong cách Minimalism nghĩa là sử dụng những đường nét đơn giản, thật ít chi tiết, giảm thiểu đồ nội thất, mọi chi tiết đều có lý trong vị trí của mình. Trường phái này hiện tại đang cực thịnh ở Châu Âu – cái nôi của trang trí nội thất. Phong cách Minimalism ảnh hưởng rất mạnh đến xu hướng trang trí nội thất tại các nước Bắc Âu trong những năm cuối thập kỷ 90 cho đến hiện nay, và có ảnh hưởng khá lớn ở Châu Mỹ. Ở Châu Á, Nhật Bản được xem là bậc thầy của phong cách hiện đại và tinh tế này và ta có thể tìm thấy âm hưởng của trường phái Minimalism trong hầu hết các công trình kiến trúc Nhật đương đại lẫn truyền thống.

    Những nguyên tắc cơ bản trong thiết kế nội thất Minimalism
    Less is more – Ít là nhiều: phong cách tối giản đúng như tên gọi của nó, chú trọng việc giảm thiểu đến tối đa việc trang trí trong không gian nội thất.Đi ngược lại các tiêu chuẩn tranh trí nội thất truyền thống về việc làm phong phú không gian bên trong với các vật dụng và chi tiết trang trí phức tạp phong cách này hướng đến việc loại các vật dụng thừa thãi nhằm giữ lại một không gian trống hoàn hảo. Chịu ảnh hưởng rất lớn từ quan niệm cũng như phong cách thiết kế và trang trí Nhật Bản, đồng thời được xây dựng trên nền tảng triết lý “Less is more”, việc trang trí nội thất theo phong cách Minimalism hướng sự chú ý đến những đường nét và kết cấu được ẩn giấu bên dưới. Các mảng tường, sàn và hiệu quả ánh sáng trên các mặt phẳng này chính là những yếu tố quan trọng làm nên phong cách tối giản. Sử dụng những đường nét đơn giản và sự kết hợp có tính toán của các mặt phẳng, không gian nội thất theo phong cách này là một tổng thể thống nhất, chặt chẽ về bố cục và nhất là giữ lại được một không gian kiến trúc đẹp, thoáng đãng, rộng rãi.

    Không gian tinh tế với sự sắp xếp đơn giản của đồ nội thất và màu sắc sử dụng

    Tất cả những gì không cần thiết được coi là thừa thãi và được loại bỏ, từ đường nét, hình khối kiến trúc cho đến các trang trí nội thất. Bản thân những đồ đạc nội thất có ý nghĩa công năng cũng được hạn chế tối thiểu, là một thành phần cấu thành yếu tố trang trí, và được coi như những tác phẩm điêu khắc. Tất nhiên với hình thức, chi tiết cũng tối giản nhưng tinh tế.

    Đồ nội thất trở thành yếu tố trang trí hữu ích cho không gian

    Sự sử dụng hạn chế về màu sắc trong trang trí là đặc trưng dễ nhận diện nhất của phong cách này.Thông thường, có không quá ba màu trong không gian nội thất theo phong cách minimalist style: một màu nền, một màu chủ đạo và một màu nhấn. Màu sắc của các mảng tường là màu trung tính nhằm tạo ra một phông đệm cho các vật dụng trang trí bên trong, hướng sự chú ý của người quan sát đến những điểm nhấn quan trọng. Phông màu trung tính cũng có tác dụng tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa các thành phần trang trí và có tác dụng tạo sự tương phản mạnh mẽ giữa các thành phần trang trí và có tác dụng kết nối các thành phần này lại với nhau. Các mảng tường trắng được sử dụng rất phổ biến trong phong cách Minmalism như một phong nền trơn nhằm tăng giá trị các đồ đạc xung quanh, đồng thời mang lại hiệu quả thị giác về một không gian rộng rãi hơn, thoáng đãng hơn.

    Những màu sắc trung tính được sử dụng rất nhiều trong không gian Minimalism
    Dùng ánh sáng làm nội thất:do hạn chế sử dụng màu sắc trong nội thất, ánh sáng trong phong cách Minimalism được xem như một thành phần trang trí quan trọng để tạo ra các hiệu ứng thị giác và thẩm mỹ. Việc sử dụng ánh sáng, nhất là ánh sáng tự nhiên, được chú trọng nhằm nhấn mạnh các khu vực quan trọng và tạo ra bóng đổ với hiệu quả cao để tôn lên các hình khối của vật dụng và các thành phần kiến trúc khác. Ánh sáng tự nhiên được lọc qua các rèm cửa, các bình phong chắn, xuyên qua các tán cây bên ngoài một cách có chủ đích để khi xuyên vào đến không gian bên trong đạt được hiệu quả chiếu sáng và thẩm mỹ mà người thiết kế đã định hướng trước. Ánh sáng nhân tạo được chọn lọc một cách cẩn thận để nhấn mạnh được hình dạng và cấu trúc của các thành phần trang trí nội thất.

    Sử dụng ánh sáng nhân tạo làm điểm nhấn và tạo sự khác biệt cho không gian

    Ánh sáng tự nhiên chan hòa khắp không gian nhờ việc tận dụng tối đa các mảng kính lớn
    Các thành phần trang trí nội thất cũng như vật dụng, bàn ghế được sử dụng ở mức độ tối giản, nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về tiện nghi sử dụng. Bàn ghế trong nội thất theo phong cách Minimalism đều có hình dạng đơn giản, hài hoà và hiện đại, được làm nên từ các đường nét không cầu kỳ nhưng tinh tế. Các vật dụng này một mặt đáp ứng được nhu cầu sử dụng, sinh hoạt của con người, mặt khác cũng chính là những thành phần trang trí cho nội thất bên trong. Bàn ghế không chỉ là nơi để ngồi mà còn được xem là những tác phẩm điêu khắc làm nên nét đẹp cho không gian bên trong.

    Không gian hiện đại, sang trọng hơn nhờ có đồ nội thất mang tính trang trí

    Một phong cách sống phù hợp:phong cách tối giản được áp dụng trong thiết kế nội thất văn phòng một cách dễ dàng. Không gian làm việc thường được yêu cầu sắp xếp và bố trí gọn gàng, đồng thời vẫn đáp ứng được công năng sử dụng một cách tốt nhất. ĐIều này phù hợp với các tiêu chí của trường phái minimalist style. Và mặc dù đa số các văn phòng làm việc sử dụng ánh sáng nhân tạo là nguồn chiếu sáng chính, càng về sau này xu hướng tận dụng tối đa nguồn ánh sáng tự nhiên ngày càng được phổ biến.

    Văn phòng theo phong cách Minimalism
    Không chỉ là một phong cách trang trí nội thất và kiến trúc, Minimalism còn biểu hiện được phong cách sống của chủ nhân. Với phương châm loại bỏ những gì không cần thiết, phong cách này thật sự thích hợp với những người thích ngăn nắp, tự do và phóng khoáng.Platon, nhà triết học Hy lạp cổ đại nổi tiếng từng nói: “ Cái đẹp của phong cách, của sự hài hoà, của sự duyên dáng và nhịp nhàng phụ thuộc vào sự đơn giản”. Người Châu Âu sau một thời gian dài say mê với các chi tiết cầu kỳ, hoa văn phức tạp lại quay sang đi tìm cái đẹp trong sự đơn giản. Với nhịp độ cuộc sống ngày càng nhanh, tính cạnh tranh trong công việc ngày càng lớn và mật độ dân số ngày càng tăng, một không gian thoáng đãng, tràn ngập ánh sáng trở thành điều mà mọi người mơ ước. Đó có lẽ là lý do giải thích tại sao phong cách này lại đạt được ảnh hưởng và thành công lớn như thế trong trang trí nội thất nói riêng và thiết kế kiến trúc nói chung tại châu lục này.

  8. Những công trình tuyệt mĩ vốn đã có sức hút lớn đối với công chúng mến mộ. Và không chỉ vẻ đẹp của các công trình khiến người ta nức lòng, mà lý tưởng – tầm nhìn của người làm ra nó và những câu chuyện về quá trình sáng tạo còn hơn thế nữa.

    Để tạo ra được không gian như vậy đòi hỏi người thiết kế phải có tầm nhìn hiếm thấy và cần một vị khách hàng phóng khoáng với một khoản ngân sách lớn. Các yếu tố đó sẽ tạo thành nguồn lực sáng tạo mạnh mẽ để biến công trình mơ ước thành hiện thực.

    Chỉ có một số ít kiến trúc sư hiện đại mới thiết kế ra được những khu phức hợp như vậy. Họ có thể biến một địa điểm thành nơi tôn vinh những đường nét gãy gọn, hình thái dứt khoát và những chất liệu thiên nhiên. Như đường tuyến tính dứt khoát trong công trình khuôn viên trường đại học của Alvar Aalto, niềm đam mê với vật liệu bê tông của Tadao Ando trong một công trình ở một đảo nhỏ của Nhật, chủ nghĩa “Thô Mộc” trong sự tri ân của một tòa phức hợp trung tâm London, các dạng hình học được đưa lên tầm cao mới trong các khu chợ hẻo lánh ở Tripoli của Oscar Niemeyer, và sự hài hòa giữa cấu trúc và không gian trong tòa nhà trọng điểm ở Chandigarh của Le Corbusier.

    “Những công trình này là minh chứng cho sự nỗ lực của các bậc thầy như Le Corbusier và Oscar Niemeyer nhằm thay đổi vai trò của kiến trúc trong xã hội.”
    Hội chợ Quốc tế Rashid Karami (Tripoli, Libya)
    Năm 1963, Oscar Niemeyer được chính phủ Li-băng giao trọng trách thiết kế khu hội chợ triển lãm quốc tế Rashid Karami ở Tripoli. Tuy nhiên công trình bị buộc tạm ngưng vĩnh viễn vào năm 1975 khi cuộc nội chiến tại đây nổ ra.

    Ảnh: Getty Images / Eric Lafforgue
    Ảnh: Getty Images / Eric Lafforgue
    Nơi đây có 15 cấu trúc khác nhau, mỗi cấu trúc có hình dạng riêng biệt tinh tế nhưng đều rơi vào tình trạng hỏng hóc. Chúng bao gồm các hình dạng khác nhau như hình vòm dạng parabol, mái vòm, hình nón và một bảo tàng lấy cảm hứng từ tàu vũ trụ. Ngày nay công trình cùng lúc vừa là tàn tích của quá khứ vừa là kiệt tác của chủ nghĩa hiện đại. Tác phẩm tuy được quảng bá là một trong những điểm du lịch của thành phố nhưng nó lại đúng nghĩa là bị bỏ hoang.
    Tòa thủ phủ Chandigarh (Chandigarh, Ấn Độ)
    Là di sản thế giới được UNESCO công nhận năm 2016, tòa thủ phủ Chandigarh của Le Corbusier là trung tâm chính trị của Ấn Độ. Khu vực này bao gồm ba tòa nhà: Cung điện hội trường với mái vòm đặc trưng phía trên lối vào, Tòa Thư ký và Cung điện Công lý.

    Ảnh: Getty Images / Artur Debat
    Ảnh: Getty Images / Artur Debat
    Các khu tượng đài cùng với khu vực hồ điểm thành những nơi quan trọng trong bản thiết kế của công trình, trong đó nổi bật với tượng đài Bàn Tay Mở Rộng tượng trưng cho hòa bình và thịnh vượng. Khung cảnh nơi đây và thậm chí cả thành phố mà nó đang tọa lạc đều do một tay Le Corbusier đảm nhận thiết kế từ lời mời của vị thủ tướng đầu tiên của nước này năm 1950. Mang sứ mệnh đem tới bước chuyển mình mới cho Ấn Độ, thành phố Chandigarh và tòa thủ phủ nơi đây mang các yếu tố của “chủ nghĩa Thô Mộc”, khiến nhiều khách thăm quan nào cũng bị quyến rũ bởi hình ảnh tương phản của thành phố trên nền chân đồi Himalayan.
    Barbican Estate (London, Anh)
    Barbican Estate – một khu phức hợp được thiết kế vào những năm 1950 bởi các kiến trúc sư Chamberlin, Powell, và Bon – là một ví dụ điển hình của kiểu kiến trúc “Thô Mộc”. Nằm trên một địa điểm đặt bom thời Thế chiến II ở London, nó bao gồm ba tòa tháp căn hộ được gọi là Cromwell, Shakespeare và Lauderdale, cũng như 13 tòa nhà bảy tầng dành cho dân cư. Tất cả được phân bố xung quanh một khu quảng trường nhiều bãi cỏ và một khoảng hồ, nhưng không mở cửa cho xe cộ.
    Ảnh: Getty Images/Jchambers
    Ảnh: Getty Images/Jchambers
    Mảnh đất được thiết kế để tạo ra một cộng đồng của riêng, bao gồm các trường học, thư viện, bảo tàng, và một địa điểm nghệ thuật được gọi là Trung tâm Barbican. Tuy được mở ra từ 1986 nhưng đến nay, khu phức hợp này vẫn giữ được năng lượng sống với những căn hộ sốt giá của mình. Có một bộ phận phản đối chủ nghĩa Thô Mộc lên tiếng chỉ trích nặng nề khu vực này, nhưng nó vẫn được coi là ví dụ tiêu biểu cho hình tượng “thành phố có sức sống mạnh mẽ nhất”.

    Đại học Jyväskylä (Jyväskylä, Phần Lan)
    Từ đầu những năm 1950 đến những năm 1970, kiến trúc sư Alvar Aalto đã lên kế hoạch cho một khu phức hợp của trường Đại học Jyväskylä, Phần Lan sử dụng gạch, gỗ và thủy tinh. Mỗi tòa được thiết kế,phân bố hài hòa với cảnh quan xung quanh.
    Ảnh: Getty Images/ssiltane
    Ảnh: Getty Images/ssiltane
    Aalto được chính thức trao quyền tạo diện mạo mới cho khuôn viên trường sau khi chiến thắng trong một cuộc thi vào năm 1951. Ông đã phác thảo công trình theo phong cách kiến trúc acropolis ở Hy Lạp cổ đại, lấy cảm hứng từ niềm tự hào của người dân nơi đây về thị trấn – Athens của phía Bắc. Qua thử thách thời gian, công trình là sản phẩm đỉnh cao của chủ nghĩa hiện đại mà cấu thành từ lối thẩm mỹ tối giản tài tình và đặc trưng của nhà kiến trúc sư từ đường nét sắc xảo, dứt khoát của gạch. Ốc đảo mang chủ nghĩa hiện đại này bao gồm các chức năng như tòa nhà ở, nhà ăn, lớp học, trung tâm thể dục thể thao và thư viện.
    Khu nghệ thuật Benesse Naoshima (Naoshima, Nhật Bản)
    Các cấu trúc hình học mềm mại của nhà kiến trúc sư hiện đại Tadao Ando đã đem đến một diện mạo mới trên nền cảnh quan thô ráp và gồ ghề của Naoshima. Tọa lạc sâu trong đất liền tại vùng biển Seto của Nhật Bản, hòn đảo nhỏ này là một thánh địa cho những ai đang tìm kiếm trải nghiệm môi trường siêu thực được kiến tạo bởi nhà sáng lập và bảo hộ Soichiro Fukutake. Nơi đây được bổ sung bởi các cơ sở như các tác phẩm điêu khắc của Yayoi Kusama và dự án Nhà Nghệ Thuật là những ngôi nhà thị trấn trống rỗng, được các nghệ sỹ khác nhau chuyển thành các tác phẩm nghệ thuật đứng.

    Ảnh: FUJITSUKA Mitsumasa
    Ảnh: FUJITSUKA Mitsumasa
    Điểm đến của những người yêu thích nghệ thuật này bắt đầu vào năm 1987 khi một công ty xuất bản bây giờ được gọi là Công ty CP Benesse đã ủy thác cho Ando để phát triển các dự án cá nhân ở phần phía nam của hòn đảo này. Kể từ đó, Ando đã dùng sự kết hợp giữa bê tông, kính và mô đun để tạo ra bốn viện bảo tàng, bao gồm Bảo tàng Nghệ thuật Chichu dưới lòng đất, Bảo tàng Nhà Benesse với khách sạn lân cận, Bảo tàng Lee Ufan trưng bày riêng công trình của nghệ sĩ họ Lee và Bảo tàng ANDO với tên gọi để tri ân nhà kiến trúc sư từng đoạt giải Priztker này.

  9. Vốn có quan hệ rất mật thiết nên giữa Nghệ thuật Thị giác (Visual Art) và Kiến trúc (Architecture) sở hữu nhiều điểm chung như: Cái đẹp, cái có ích, cái hài hòa, tính thời đại, phong cách, thủ pháp biểu hiện…

    Tuy nhiên, điều tất yếu là mỗi loại hình nghệ thuật nêu trên cũng luôn có những đặc điểm riêng, tính đặc thù luôn được nhấn mạnh; nhưng sẽ là không đầy đủ nếu chỉ “thấy cây mà không thấy rừng”, tức là không thấy những ảnh hưởng, tác động lẫn nhau giữa các loại hình nghệ thuật này, đặc biệt là: Tính thời đại, phong cách, thủ pháp biểu hiện….

    Trong chuyên đề này, chúng tôi muốn sử dụng các thuật ngữ và khái niệm nghệ thuật quen thuộc để làm hệ quy chiếu mỹ học, để cảm thụ và đánh giá các tác phẩm hội họa, điêu khắc và kiến trúc [1]. Qua chủ đề Kiến trúc và các hệ qui chiếu mỹ thuật, chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ trên một cách cân bằng hơn.

    Kiến trúc như một tạo tác Nghệ thuật
    Nghệ thuật (Art – tiếng Anh và Pháp) là một khái niệm có từ thời cổ đại, theo nghĩa của từ gốc La-tinh có nguyên nghĩa và phổ biến nhất để chỉ về việc có được hoặc đạt được “kỹ năng” hay “sự khéo léo” [6]. Theo nghĩa này, thì một tác phẩm điêu khắc và một kiến trúc đẹp mắt là một công trình nghệ thuật, vì trong đó kết tinh không biết bao nhiêu sự khéo léo và kỹ năng tinh xảo mà không phải lúc nào cũng đạt tới đỉnh cao. Điều này đã được thừa nhận rộng rãi trong việc đánh giá một nền văn minh, trong đó điêu khắc và kiến trúc luôn là những thành tố không thể thiếu.

    Trong thế giới nghệ thuật Hy – La, chúng ta từng đã bắt gặp rất nhiều những mẫu mực tuyệt vời, đầy sức quyến rũ, lay động cảm quan của nhân loại về vẻ trong sáng, đẹp đẽ, cao thượng và nhân văn… những cảm quan này sẽ mãi tồn tại.

    The Marriage of the Virgin – RAPHAELO – 1504
    Theo nghĩa này, nghệ thuật còn để chỉ những “kỹ năng” hay “sự khéo léo” mà con người đạt tới trong nhiều lĩnh vực khác như: Nghệ thuật quân sự, chính trị, ngoại giao… Cho đến thế kỷ 17, nghệ thuật được dùng để chỉ bất kỳ kỹ năng hay sự thông thạo nào, và không phân biệt khỏi các môn thủ công mỹ nghệ hay các ngành khoa học, như y học cũng được coi là một nghệ thuật. Như vậy, có thể nhận xét rằng: Lịch sử kiến trúc thời cổ đại là lịch sử của những tạo tác tài khéo [4]. Điều này cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác về mối quan hệ của kiến trúc với nghệ thuật, do chúng có cùng đặc điểm được qui định bởi thời đại sản sinh ra chúng. Dù muốn hay không, tính sáng tạo trong những kiến trúc cổ đại cũng là hạn chế thiên về sự sao chép khéo léo, chính xác những mẫu mực có sẵn. Chúng luôn được thực hiện bởi những người thợ thủ công cần mẫn, những người thợ lành nghề nhất trong nhóm thợ xây dựng – chính là “kiến trúc sư” và danh tiếng của họ cũng vì vậy mà trở nên không rõ ràng.

    Kiến trúc như một tạo tác Mỹ thuật
    Sau thế kỷ 17, xuất hiện khái niệm Mỹ thuật (A: Fine Art; P: Beaux-Arts), chủ yếu để chỉ những ngành như: Hội họa – Đồ họa – Điêu khắc – Kiến trúc, là những ngành chuyên nghiệp tạo ra những “cái đẹp” để có thể nhìn, ngắm, thưởng thức… và tất nhiên còn là để sử dụng. Khái niệm Mỹ thuật đã định hướng và tác động mạnh mẽ lên phương thức hoạt động của bốn ngành trên, đề cao và tách biệt tính sáng tạo của người nghệ sĩ với hoạt động tạo tác gần như lặp lại của giới nghệ nhân. Chính điều này đã làm cho mỹ thuật có được địa hạt riêng và thay đổi tính chất. Mỹ thuật đưa kiến trúc thoát khỏi thân phận sao chép thuần túy của nghề thủ công với những phát kiến và sáng tạo có tính cá nhân.

    Quảng trường THE CAPITOLINE MICHELANGELO – 1537
    Một trong những gốc rễ quan trọng hình thành nên khái niệm “Mỹ thuật” là việc hoàn thiện phép vẽ phối cảnh thời Phục hưng. Nó khiến cho không chỉ có hội họa phải diễn đạt không gian chính xác bằng đường chân trời và điểm tụ mà cả kiến trúc cũng được thiết kế theo những cách thức tương tự. Kể từ thời Phục Hưng, luật viễn cận là cơ sở của hội họa châu Âu. Leonardo da Vinci coi luật viễn cận là môn học đầu tiên của nghề vẽ [2]. Người ta say mê với việc nhìn thế giới được miêu tả “giống như thật” trong các tác phẩm của Leonardo da Vinci và Raphaelo. Trong thời kỳ này, sự phân công vai trò giữa họa sĩ và KTS chưa sâu sắc, nên một nghệ sĩ (họa sĩ và điêu khắc gia) thường đảm nhận luôn cả công việc của KTS, như trường hợp Michelangelo, ông cũng là người thiết kế Quảng trường Capitoline. Hai khối kiến trúc ở hai bên quảng trường được sắp đặt không song song với nhau như thường gặp chỉ vì ông muốn cho góc nhìn chính phải đảm bảo tính cân xứng nhất có thể, như khi ta nhìn vào một bức tranh Phục hưng với hiệu ứng của luật phối cảnh. Khi đó, điểm tụ sẽ tác động mạnh đến thị giác của người quan sát tiến vào quảng trường từ một trục đường độc đạo được dẫn từ dưới chân quả đồi đi lên. Như vậy, ảnh hưởng nhãn quan mỹ thuật của nghệ sĩ lên các công trình kiến trúc là dễ hiểu. Tương tự, điêu khắc gia Baroque Bernini cũng đồng thời là người thiết kế Quảng trường St. Peter ở Rome.

    Chủ nghĩa Cổ điển (Classicism) được hình thành trên cơ sở Viện Hàn lâm Hội hoạ và Điêu khắc Hoàng gia (Académie Royale de Peinture et de Sculpture), được thành lập bởi Hồng y Cardinal Mazarin năm 1648, nơi đã từng đào tạo rất nhiều nghệ sĩ lớn ở châu Âu [2]. Chủ nghĩa Cổ điển mong muốn tạo nên một nền nghệ thuật lớn từ việc thiết lập những nguyên tắc rõ ràng trên bố cục các thành phần của bề mặt kiến trúc. Khái niệm facad (elevation – mặt đứng) trong kiến trúc cũng vì thế mà xuất hiện. Những nguyên tắc ấy chính là lấy sự đối xứng nghiêm ngặt và thức cổ điển (Classical Order) làm mực thước, lấy thần thoại Hy – La làm chủ đề, hướng tới một tỉ lệ đẹp trong các tương quan kích thước giữa các bộ phận và tổng thể…[5]. Một lớp nghệ sĩ phục vụ cho cung đình, minh họa cho nền chính trị quân chủ được đào tạo trong gần bốn thế kỷ đã tạo nên những góc nhìn về kiến trúc và không gian mang đầy đặc tính sân khấu và giả tạo. Có thể so sánh hình ảnh này của kiến trúc với những bộ tóc giả của giới quí tộc châu Âu.
    Sau cách mạng Pháp 1789, hai trường Chuyên môn Mỹ thuật Quốc gia (École Nationale et Spéciale des Beaux-Arts) và trường Kiến trúc Quốc gia (École Nationale d’Architecture) tồn tại độc lập. Năm 1797, hai trường này được sáp nhập thành trường Mỹ thuật, Điêu khắc và Kiến trúc Quốc gia (École Nationale de Peinture, de Sculpture et d’Architecture). Đến năm 1819 được mang tên trường Chuyên môn Mỹ thuật Hoàng gia (École Royale et Spéciale des Beaux-Arts) [2].

    Mount Sainte-Victoire – CEZANNE – 1904

    Girl with a Mandolin-1910-Pablo Picasso
    Như vậy, khái niệm Mỹ thuật (Beaux-Arts) xuất hiện là có “định hướng” chuyên môn rõ ràng, tuy rằng đã có lúc dành riêng cho hội họa và điêu khắc, nhưng về cơ bản là bao gồm các ngành: Hội họa – Đồ họa – Điêu khắc – Kiến trúc.

    Phép vẽ phối cảnh cũng góp phần rất quan trọng trong việc hình thành và củng cố những nguyên tắc của Chủ nghĩa Cổ điển, tiêu biểu là tổng thể Cung điện Versailles, đồ án qui hoạch cải tạo Paris của Haussmann. Những đồ án này có đặc điểm nhấn mạnh tính nghiêm ngặt của bố cục thông qua trục đối xứng; lấy công trình điêu khắc hoặc kiến trúc làm đối cảnh, như là những tiêu điểm trọng tâm cho một điểm nhìn trên một bức tranh [5].

    Khái niệm Mỹ thuật còn lan tỏa sức tác động của nó trong những xu hướng nghệ thuật tạo hình khác dưới những tên gọi không kém phần mỹ miều: Baroque, Rococo với sự “bóp méo, uốn, vặn” các hình học vốn rất mực thước từ thời Plato. Động thái này xuất phát từ phát hiện của Kepler rằng quỹ đạo của các hành tinh chuyển động quanh Mặt trời theo hình ellipse. Cũng từ đây, cả kiến trúc, hội họa và trang trí đều ưa thích sử dụng những bố cục với hình ellipse thay cho hình tròn như trước đó. Nó là sự mong muốn diễn đạt tính chất “bất qui tắc” mới mẻ mà người ta dùng để gọi nghệ thuật Baroque như là một “viên ngọc không qui tắc”. Mặt bằng các nhà thờ Thiên Chúa giáo giờ đây không rập khuôn theo hình tượng của cây thập tự nữa, mà là những là một tổ hợp phức tạp, rối rắm của những hình ellipse đan cài lẫn nhau [5]. Giới nghệ sĩ cũng như KTS đua nhau thi thố tài năng thông qua những “tạo hình” mỹ thuật này.

    Drawing from La Città Nuova-SANT’ TELIA – 1914
    Tóm lại, Mỹ thuật là một từ ngữ không chỉ định hướng phát triển mà còn diễn đạt rất chính xác những gì chúng ta có thể nhìn thấy về mối quan hệ của kiến trúc với các ngành được mệnh danh là mỹ thuật, chúng có cùng một đặc điểm lớn của dạng thẩm mỹ được nhìn từ một điểm qui ước.

    Kiến trúc như một tạo tác Trừu tượng
    Sự ra đời của Trường phái Lập thể (Cubism), được xem như khởi nguồn từ họa sĩ Hậu ấn tượng (Post-Impressionism) Paul Cézanne mà tiêu biểu là chuỗi họa phẩm “Mont Sainte Victoire” được ông vẽ trong những năm cuối đời. Đó là sự chuyển biến từ những khối cô đọng của hình kỷ hà sang “Những nét chập chờn, gợi ý cho bút pháp Lập thể và Trừu tượng (Abstract) sau này. Có nghĩa là, ông đã vẽ theo lẽ tự nhiên (naturalness) chứ không phải mô phỏng thiên nhiên (nature)” [3].

    Khoảng giữa những năm 1907 – 1914, Georges Braque và Pablo Picasso sáng lập nên những nguyên tắc cơ bản của Trường phái Lập thể, thật sự làm nên một cuộc cách mạng nghệ thuật, theo đó bác bỏ những lý thuyết đã từng được xưng tụng, khước từ những phương thức đã gần như bất di bất dịch: Phép phối cảnh, luật xa gần, hình mẫu, tương phản sáng tối… như đó là những khuôn mẫu mà nghệ thuật cần phải thể hiện [9].

    Cung điện Vesailles
    Các họa sĩ Lập thể đã không sao chép các hình thức, kết cấu, chất liệu, màu sắc và không gian của thế giới hiện thực; họ tìm cách thể hiện thực tại bằng những hình thức mới bằng cách hướng tới việc miêu tả hình ảnh phân rã của các đối tượng một cách dứt khoát.

    Tính chất trong suốt, nhẹ nhàng của thủy tinh đối lập với sự đặc, nặng của gạch, đá;
    Không gian bên trong kiến trúc được soi sáng đối lập với sự u tối của kiến trúc bằng gạch, đá thời kỳ Tiền công nghiệp;
    Kiến trúc sống động, linh hoạt thay vì tĩnh tại, tất cả các bề mặt có thể được nhìn thấy cùng một lúc, cả bên trong lẫn bên ngoài, không gian và thời gian cùng liên tục vận động khi những điểm quan sát thay đổi. Lúc này, người “xem tranh” không còn đứng ở bên ngoài, nhìn ngắm đối tượng từ xa mà đi vòng quanh, thậm chí còn đi hẳn vào bên trong công trình để mà ngắm nghía tất cả mọi xó xỉnh mà họ quan tâm.
    Pablo Picasso mô tả: “Lập thể thì không là một thực tế mà bạn có thể cầm trên tay. Nó giống như một loại hương thơm, ở trước mặt, sau lưng hoặc bên cạnh bạn, bạn cảm nhận thấy nó ở khắp nơi nhưng bạn không chắc chắn biết được nó đến từ đâu”.

    PalmHouse – London
    Còn đây là phát biểu của Jacques Lipchitz – một nhà điêu khắc Cubist: “Lập thể thì giống như bạn đang đứng tại một điểm cố định trên một ngọn núi và nhìn ra xung quanh. Nếu bạn lên cao hơn, mọi thứ trông sẽ khác đi; nếu bạn xuống thấp hơn, chúng sẽ một lần nữa khác đi. Đó chính là một điểm để nhìn” [9].

    Như vậy, với các họa sĩ Lập thể thì việc mô tả, sao chép những gì có sẵn trong tự nhiên trở nên vô nghĩa và phi nghệ thuật, vì việc này đã bị thay thế hoàn toàn bởi chiếc máy ảnh. Cũng chính Lập thể đã ảnh hưởng tới các nghệ sĩ vào thập niên 1910 và khơi dậy một vài trường phái nghệ thuật mới như Chủ nghĩa Vị lai (Futurism), Chủ nghĩa Cấu trúc (Constructivism) và Chủ nghĩa Biểu hiện (Expressionism)…

    Trường phái Nghệ thuật Vị lai Ý (Italian Futurism) với đam mê phá bỏ, lật đổ truyến thống Cổ điển Chủ nghĩa và ca ngợi khoa học kĩ thuật – Nghệ thuật hướng tới vẻ đẹp lý tưởng của xã hội Công nghiệp. Các thủ pháp mà họ ưa thích là sự diễn đạt về cái cảm giác vận động, tốc độ, sự bùng nổ, bạo liệt… Các tác phẩm của họ không phải lúc nào được hoan nghênh rộng rãi, cho nên chính Appolinaire đã than rằng: “Họ chẳng biết vẽ vời gì cả cho nên mới ăn nói như vậy!” [4].

    Đồng hành với những đam mê của Trường phái Nghệ thuật Vị lai Ý còn có Trường phái Cấu tạo Nga (Constructivism), nhưng “tác phẩm” mà họ công bố có tính Lập thể và chất Vị lai khá rõ ràng. Nhưng cống hiến quan trọng nhất là do những tư tưởng tiên phong trong kiến tạo kiến trúc, là những gợi ý cho nhiều đồ án kiến trúc hiện đại sau này [5].

    Trong bài luận “Neo-Plasticism in Pictorial Art” – tạm dịch: Chủ nghĩa Tân tạo hình trong Nghệ thuật hình ảnh – Mondrian đưa ra sự khẳng định như sau: “Ý tưởng Tân tạo hình bỏ qua những đặc tính của hình thể và màu sắc có tính tự nhiên. Trái lại, nó sẽ tìm ra cách diễn đạt trong sự trừu tượng, đó là đường thẳng và màu sắc nguyên thủy được xác định một cách rõ ràng” [10]. Với những mức độ kiềm chế nhất định, tác phẩm của ông chỉ thể hiện những màu nguyên thủy (đỏ – vàng – lam) và đen – trắng, chỉ những hình vuông và hình chữ nhật, với những đường nét dọc hoặc ngang ngay thẳng.

    Chịu ảnh hưởng từ nghệ thuật Lập thể, cũng như những tác phẩm Trừu tượng (Abstract Art) của Piet Mondrian, năm 1917, Theo van Doesburg cùng Mondrian sáng lập nên De Stijl – một trường phái Nghệ thuật không đi kèm với hậu tố ism như thường thấy. Ông vẽ những chủ đề thiên nhiên bằng những hình học trừu tượng với đường thẳng nghiêm ngặt và màu nguyên chất (không pha trộn) tương tự như tranh của Mondrian. Theo van Doesburg cũng là người đưa ra khái niệm Elementarism để giải thích cách tiếp cận của mình, với những ý tưởng nghệ thuật phải phản ánh tinh thần của Thời đại Cơ khí hóa: “Trong khi Tân tạo hình thì được giới hạn trong mặt phẳng hai chiều, Elementarism nhận thấy có thể tạo hình trong bốn chiều, trong môi trường không gian – thời gian” [10].

    Tóm lại, nghệ thuật Lập thể với cách nhìn thế giới theo bốn chiều, tính trừu tượng là những nội dung căn bản của De Stijl và nó có sức lan tỏa mạnh mẽ đến học phái Bauhaus, Phong cách Quốc tế (International Style), của kiến trúc và nghệ thuật Hiện đại ở phương Tây trong thế kỷ 20. Với rất nhiều trường phái, phong cách nở rộ như “nấm mọc sau mưa”, khởi nguồn từ sự xuất hiện của cơ khí, với những vật liệu xây dựng mới là kính và thép, bê tông cốt thép… được tiếp sức và có liên hệ trực tiếp đến những trường phái nghệ thuật mới, đầy tính cách tân mà trong đó trường phái Lập thể và Trừu tượng là nổi bật. Điểm chung giữa kiến trúc với nghệ thuật trong giai đoạn này chính là tính TRỪU TƯỢNG trong các hình thức hình học kỷ hà.

    Kiến Trúc như một tạo tác khơi gợi
    Sau thời kỳ phát triển ồ ạt của kiến trúc Hiện đại, những hình thể đầy tính trừu tượng của nó bắt đầu nhận được những phản ứng dữ dội của xã hội, trong đó, Nghệ thuật Đương đại (Contemporary Art) đóng một vai trò to lớn. Nghệ thuật Đương đại không đi tìm những phương thức diễn đạt trên giá vẽ và trong các studio như trước kia mà tìm cách phản ánh cách chúng ta nhìn – thấy và suy nghĩ như thế nào về thế giới và về bản thân mình. Chức năng này đặt lên vai nghệ sĩ trách nhiệm tạo nên sự kết nối những cảm nhận riêng của mỗi chúng ta với những câu hỏi về thế giới và về tồn tại. Điều này tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của rất nhiều các hình thức nghệ thuật mới như: Nghệ thuật Đại chúng (Pop art), Nghệ thuật Sắp đặt (Installation art) , Nghệ thuật Trình diễn (Performance art), Nghệ thuật Hình thể (Body art), Nghệ thuật ánh sáng (Lighting Art), Nghệ thuật Công cộng (Public art)… Sự đa dạng, khác biệt quá nhiều giữa các hình thức nghệ thuật đương đại như nêu trên đã khiến cho không có một từ ngữ nào có thể bao quát được, nên người ta gộp chung chúng vào trong một thuật ngữ trung tính: Nghệ thuật Đương đại.

    So với thuật ngữ Nghệ thuật Đương đại, Nghệ thuật Thị giác (Visual Art) có một phạm vi hẹp và cụ thể hơn, vì nó dùng để chỉ các hình thức nghệ thuật chủ yếu tác động vào thị giác, một khái niệm gần gũi với những thuật ngữ đã được bàn tới ở trên: Nghệ thuật (Art), Mỹ thuật (Fine Art), Nghệ thuật Lập thể (Cubism)…. [7, 12].

    Kiến trúc Đương đại (Contemporary Architecture) với hàng loạt các xu hướng khác nhau đã cho chúng ta thấy sự phát triển đa dạng, phong phú về hình thức, trong các phương thức biểu hiện cũng cho thấy có sự đồng hành thực sự với Nghệ thuật Đương đại. Đó là sự khước từ những lý thuyết và khuôn mẫu từng được truyền tụng và những điều mà nghệ thuật cần phải thể hiện, tránh đi những áp đặt chủ quan của nhà thiết kế, của trường phái mà tạo nên sự tương tác ngày càng tích cực giữa kiến trúc và công chúng. Kiến trúc rời bỏ con đường của những tạo tác mô tả, những kiểu cách phục vụ thị giác, để bước sang con đường của những tạo tác giàu tính nhân văn hơn với những Khơi gợi.

    CHURCH Reading Between the Lines-Gijs Van Vaerenbergh-2011
    Thay lời kết
    Những phân tích trên đây nhằm đưa ra một hướng nhìn khác với truyền thống về kiến trúc phương Tây thông qua một vài thuật ngữ và khái niệm nghệ thuật tưởng chừng như đã không còn phải thảo luận. Tuy nhiên, đề tài Không gian sáng tạo – Nghệ thuật công cộng chính là lý do để nhìn nhận lại kiến trúc thông qua những hệ quy chiếu khác nhau của các thuật ngữ mỹ học.

  10. Theo bản năng khó giải thích, từ nhỏ tôi luôn tìm kiếm vẻ đẹp từ mọi thứ xung quanh. Dường như là tự nhiên, tôi thích vẽ và vẽ lại mọi thứ bằng sự đơn giản có thể nhất. Sau này, việc tôi thành một KTS cũng là hợp lẽ để tiếp tục hành trình bản năng tìm kiếm cái đẹp dù nhiều lúc bị che lấp bởi va chạm với thực tế khô khốc của cuộc sống mưu sinh. Nhân duyên nào đó, từ giới thiệu của một người thầy, tôi tìm đọc tác phẩm “In Praise of Shadows” (Ca tụng bóng tối) của Junichiro Tanizaki. Trong lâu đài văn chương của tác giả, tôi say mê ngụp lặn trong chiều sâu vẻ đẹp giá trị truyền thống văn hóa Nhật Bản, bị mê hoặc và bất ngờ trước vẻ đẹp của bóng tối, vẻ đẹp từ những đồ vật, những không gian bình thường nhất trong thế giới quan và thẩm mỹ truyền thống người Nhật. Tôi tìm đến Wabi Sabi, một trong những giá trị thẩm mỹ cốt lõi, linh hồn truyền thống trong văn hóa Nhật Bản, ảnh hưởng sâu sắc và tạo nên sự độc đáo trong các sáng tạo được thế giới ca ngợi của kiến trúc đương đại Nhật Bản…

    Ở mức độ siêu hình, Wabi Sabi là một vẻ đẹp ở rìa hư vô. Nguồn: http://www.pinterest.com
    Wabi Sabi được hiểu như thế nào?
    Wabi Sabi, một thuật ngữ tập trung vào tính phù du và không hoàn hảo mà bất kỳ người Nhật nào đều biết nhưng không thể giải thích nó một cách rõ ràng, cho dù họ đều khẳng định mình hiểu được nó khi được hỏi – Vì đây là một thuật ngữ đại diện cho cốt lõi thẩm mỹ và thế giới quan của văn hoá Nhật Bản. Xuất phát từ nền tảng triết học từ Zen (Zen buddhism) và như nhiều khái niệm triết học, Wabi Sabi không thể dễ dàng giải thích hoặc dịch thuật. Thậm chí, ý nghĩa minh triết của Wabi Sabi được bao bọc trong sự huyền bí vì lý do thẩm mỹ. Sự không thể định nghĩa này lại đơn giản là một mặt không hoàn hảo sẵn có của Wabi Sabi. Trong hành trình chạm và cảm triết mỹ Wabi Sabi, tôi hoàn toàn không có ý định tìm ra một công thức hay một định nghĩa rõ ràng, tự mỗi người chúng ta sẽ có một sự “ngộ“ của riêng mình về Wabi Sabi. Và như thế, sự giới thiệu, chia sẻ Wabi Sabi với mọi người đơn giản là hành trình dẫn dắt đến với sự “cảm và ngộ“ của bản thân tôi về triết mỹ này. Hành trình này chỉ như một sự ướm thử, là bước đầu cá nhân tôi trên con đường nhận dạng sự chuyển hóa “linh hồn Nhật Bản“ trong sáng tạo cái đẹp của KTS đương đại Nhật với tâm thế học hỏi của một KTS Việt Nam.

    Wabi Sabi là phản đề của quan niệm về vẻ đẹp cổ điển phương Tây với ý thức về sự hoàn hảo.

    Trong văn hóa Nhật Bản, Wabi Sabi cũng quan trọng không kém gì phong thủy của người Trung Hoa. Theo Leonard Koren, “Wabi Sabi là đặc tính riêng biệt nổi bật nhất của vẻ đẹp truyền thống Nhật Bản, nó chiếm một vị trí thiêng liêng trong đền thờ của những giá trị thẩm mỹ, hệt như vai trò của triết lý hoàn mỹ Hy Lạp đối với văn hóa phương Tây”. Sau nhiều thế kỷ kết hợp ảnh hưởng nghệ thuật và Phật giáo từ Trung Hoa cùng như triết học Nho giáo, Wabi Sabi sau cùng phát triển thành một lý tưởng thẩm mỹ Nhật Bản rõ ràng, là hệ quy chiếu thẩm mỹ cho mọi lĩnh vực nghệ thuật khác từ kiến trúc, thơ (dòng thơ Haiku), hội họa, cho đến kịch. Cũng theo Leonard Koren thì: “Wabi Sabi có thể được gọi là một hệ thống thẩm mỹ phức hợp nhiều khái niệm. Thế giới hay vũ trụ quan cũng là phản chiếu chính bản thân. Nó cho ta thấy tính vạn vật đồng nhất thể là đặc tính chung của mỗi thực thể (siêu hình), cái toàn tri (tinh thần), cảm giác hạnh phúc (trạng thái tâm thức), cách hành xử (đạo đức), cách nhìn và cảm nhận mọi thứ (vật chất)”.

    Đồ án Quy hoạch Vịnh Tokyo (1960), Kenzo Tange
    Ở mức độ siêu hình, Wabi Sabi là một vẻ đẹp ở rìa hư vô: Một vẻ đẹp xảy ra khi mọi thứ đang trong quá trình hình thành hoặc hư hoại. Nhiều thứ mới mẻ xuất hiện từ cái hư vô. Nhưng chúng ta không thật sự nhận ra nó bằng óc quan sát vội vã khi chúng đang hình thành hay tới hồi chuyển giao. Một phép so sánh trực quan cho sự tồn tại và biến mất, bằng chứng cho sự phù du là hoa anh đào, một trong những hình ảnh biểu tượng mạnh mẽ nhất của văn hóa Nhật Bản. Mùa xuân, hoa anh đào rực rỡ nhất trong khoảng một tuần, khoảnh khắc đẹp nhất cũng là mong manh nhất, chỉ bất chợt một cơn gió nhẹ cũng sẽ chấm dứt nó. Sự vĩnh cửu và xót xa của hình ảnh hoa anh đào gợi trong ta một suy nghĩ về tính phù du, khoảnh khắc lộ ra vẻ đẹp Wabi Sabi. Wabi Sabi, trong hình thức thuần khiết và lý tưởng nhất là những dấu vết mong manh và hư ảo như vậy, đó là biên dạng của những thứ hư vô. Ở đây, hư vô, không theo cách hiểu của văn hóa phương Tây như một không gian trống rỗng hoàn toàn, mà nó ẩn chứa sự sống tiềm tàng. Trong khái niệm trừu tượng, Wabi Sabi gợi lên hình ảnh một vũ trụ không ngừng vận động, một sự kết nối con người và tự nhiên. Tự nhiên vốn được hiểu là những thứ như đất, cỏ cây, động vật, sông núi và các lực tự nhiên như mưa, gió, nước, lửa,… nhưng tự nhiên trong nghĩa Wabi Sabi còn chứa đựng cả những ý nghĩ của con người, những suy nghĩ và tạo tác không mang tính tự nhiên. Thẩm mỹ Wabi Sabi bắt nguồn từ sự khiêm tốn, thẩm mỹ hóa sự đói nghèo, đó là sự nhận thức thanh lịch. Những niềm vui thẩm mỹ của Wabi Sabi phụ thuộc vào thái độ và thực hành nhiều hơn về bản thân vật chất.

    Vẻ đẹp của Wabi Sabi là một sự chuyển giao của tâm thức, thứ logic trái tim chứ không phải kiểu lý tính rõ ràng, không phụ thuộc vào thuộc tính nội tại của sự vật. Nói cách khác, vẻ đẹp của Wabi Sabi “xảy ra “ bất chợt giữa ta và một khách thể. Vẻ đẹp có thể phát sinh một cách rất tự nhiên ở bất cứ thời điểm nào mà hoàn cảnh, ngữ cảnh thuận lợi hay một quan điểm thích hợp mang lại. Ví như khi yêu ai thực sự, khi đó chúng ta sẽ “cảm thấy” được vẻ đẹp của người mình yêu bất chấp sự xấu, đẹp thể chất hoặc thậm chí là ý kiến đánh giá của phần còn lại của thế giới.

    Vẻ đẹp của Wabi Sabi tiết lộ các quá trình tự nhiên như lão hóa, hư hỏng, suy thoái,… chúng phản chiếu hành trình cuộc sống của chúng ta bằng hình ảnh của con người thông qua sự tồn tại. Theo đó, sự tương tác với con người và tự nhiên mang đến nhiều cảm xúc bản nguyên, Wabi Sabi chắc chắn sẽ khiến chúng ta cảm nhận bản chất tạm thời nằm trong sự tồn tại của chính chúng ta, khiến chúng ta thấy đang thực sự sống và kết nối với thế giới xung quanh.

    Thư viện đại học quốc gia Đài Loan, KTS Toyo Ito,
    Wabi Sabi là phản đề của quan niệm về vẻ đẹp cổ điển phương Tây. Hoàn hảo là một trong những giá trị ưu việt của nền văn hoá phương Tây, ngầm định vẻ đẹp như là sự hoàn hảo hóa khách quan. Tuy nhiên, có lẽ ở nơi nào đó bị chôn vùi hoặc không dám nhìn nhận trong tâm lý của chúng ta là: Con người về cơ bản ngụ ý là không hoàn hảo. Vì vậy, khi xuất hiện một triết mỹ gợi ý rằng sự không hoàn hảo có thể cũng đẹp, cũng có giá trị, như sự hoàn hảo, sẽ được thừa nhận chào đón. Thế nên, triết mỹ Wabi Sabi đã vượt ra biên giới Nhật Bản và trở thành cảm hứng sáng tạo trong nhiều ngành nghệ thuật trên thế giới ngày nay.

    Sự thực, Wabi và Sabi đã tồn tại từ lâu trong văn hoá Nhật Bản, nhưng theo những thuật ngữ riêng biệt. Sabi, được tìm thấy trong tuyển tập đầu tiên của Nhật Bản được biên soạn vào thế kỷ thứ 8. Vào thời điểm đó, Sabi có nghĩa là hoang vắng. Vào thế kỷ 12, Sabi đã trở thành một khái niệm quan trọng và quan trọng của thơ Nhật Bản, có nghĩa là “thưởng thức những gì đã cũ, mờ dần và cô đơn“, nó cũng đề cập đến “một vẻ đẹp của sự héo tàn”. Gần 400 năm sau, vào cuối thế kỷ 15, Wabi nổi lên như một thuật ngữ để miêu tả cảm giác thẩm mỹ của trà đạo, và cũng thường được thấy trong “waka”, “renga”, “haiku”. Từ nguyên của “Wabi” bắt nguồn từ động từ “wabu” (sự tàn phai, u uẩn), và hình dung từ “wabishii” (sự cô độc, chán chường), đầu tiên chỉ nỗi thương đau của kẻ rơi vào cảnh khốn cùng.

    Ý nghĩa của Wabi và Sabi ngày nay đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng giá trị thẩm mỹ tích cực và ranh giới giữa chúng thật sự đã bị xóa nhòa. Khi một người Nhật nói Wabi thì cũng có thể họ đang nói về Sabi và ngược lại. Sự kết hợp này như một gợi ý rằng: Triết lý Wabi có thể được khám phá tốt hơn, mô tả, và hiểu bằng cách sử dụng các thẩm mỹ Sabi.

    Wabi Sabi trong nghệ thuật kiến trúc đương đại Nhật bản
    Không có gì vĩnh viễn, không có gì hoàn hảo, không có gì hoàn tất. Mọi thứ đều có một tiến trình lập lại, xác định trước, sinh ra, sống và chết. Đây là vòng thực tại không thể tránh khỏi của cuộc sống trong nền tảng triết lý thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản. Ngôi nhà truyền thống của người Nhật thường làm bằng gỗ và không sử dụng những phụ kiện có màu sắc nổi bật để trang trí nội thất như người phương Tây, bên ngoài thường không quét vôi và để phó mặc cho thiên nhiên hoàn thiện. Nếp nhà và cảnh quan chung quanh rất phù hợp thẩm mỹ Wabi: Dung dị và thanh tao. Ngoài đền thờ và nhà ở, rõ ràng nhất của biểu hiện tinh thần Wabi Sabi trong kiến trúc truyền thống Nhật Bản là kiến trúc Trà thất, vườn Trà đạo, vườn khô thiền Ryoan-ji. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, mọi thứ đều tốt hơn, tinh tế hơn, sắc sảo hơn. Liệu chăng, minh triết Wabi Sabi đã chết trong thời hiện đại? Tất nhiên là không, người Nhật luôn hào hứng cập nhật, tiếp thu phong cách mới nhưng hiếm khi thay đổi về tâm tưởng. Mặt khác, Wabi Sabi vẫn tồn tại, không hoàn hảo vẫn tồn tại khắp nơi, chúng ta chỉ cần phải xem xét kỹ hơn, tâm phải bình tĩnh, chú ý, chu đáo để nhìn thấy nó trong sáng tạo “hoàn hảo” của thời đại. Từ các thành tố cấu thành Wabi Sabi, các KTS đương đại Nhật Bản đang “định nghĩa” Wabi Sabi trong bối cảnh thiết kế hiện đại và tinh thần thời đại. Mặc dù vẫn sẽ khó tham khảo các thiết kế của họ như là Wabi Sabi nhưng trong thực tế, chúng ta có thể phân định tương đối các biểu hiện triết mỹ Wabi Sabi trong các sáng tạo đương đại, ẩn chứa trong thiết kế của họ từ sâu thẳm cội nguồn truyền thống.

    Nhà thờ ánh sáng Osaka, Japan, Tadao Ando. Nguồn: http://www.pinterest.com
    Kiến trúc đương đại Nhật Bản thành công và được thế giới ca ngợi một phần là do “linh hồn Nhật Bản” luôn để lại dấu ấn xuyên suốt trong ngôn ngữ kiến trúc của tác phẩm kiến trúc đương đại. Trong đó, sự ảnh hưởng thẩm mỹ Wabi Sabi đem lại dấu ấn cốt lõi và đậm nét nhất. Trong Thuyết Triết học Kiến trúc Cộng sinh, Kisho Kurokawa cũng đã viết: “Thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản thực chất là thẩm mỹ của sự cộng sinh, trong đó thẩm mỹ của Wabi Sabi được tồn tại một cách cộng sinh cùng với những quan niệm thẩm mỹ khác, thực thể và phi thực thể, sự đơn giản và sự xa hoa, bóng tối và ánh sáng, logic và phi logic…. “. Trong các sáng tạo mang những phong cách khác nhau của các thế hệ KTS đương đại Nhật Bản đều ẩn chứa các thành tố khác nhau của giá trị nội hàm Wabi Sabi. Mỗi người họ tiếp cận những “diện“ khác nhau trong “khối đa diện thẩm mỹ truyền thống“ Wabi Sabi và chuyển hóa nó trong hình thức kiến trúc mang hơi thở từng thời kỳ của thời đại.

    Đầu tiên là Kenzo Tange , người có công dẫn đường đặt nền móng tư duy sáng tạo đúng đắn khi bắt đầu hành trình tìm tòi, kế thừa và phát huy giá trị truyền thống trong sáng tạo cho các giai đoạn tiếp theo của kiến trúc đương đại Nhật Bản. Ánh sáng và vật liệu dưới sự sáng tạo tuyệt vời của ông đã truyền tải tinh thần truyền thống Wabi Sabi trong các thiết kế hiện đại. Trong Đồ án Quy hoạch Vịnh Tokyo (1960), ông quan niệm đô thị như một cơ thể sống, phản ánh nguyên tắc chuyển hoá về sự phát triển và biến đổi không ngừng, một cách diễn đạt mới về vòng thực tại luân hồi trong nền tảng triết lý thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản. Trung tâm báo chí và phát thanh Shizuoka, Chuo, Tokyo (1967) cũng phản ánh tinh thần Wabi Sabi về tính dở dang, chưa hoàn tất. Trong quần thể Đài tưởng niệm và bảo tàng Hiroshima (1949 – 1956), hình ảnh một quần thể công trình kiến trúc hiện đại nghiêm khắc và yên tĩnh thoát khỏi cách biểu đạt thống thiết bi thương biểu đạt tinh thần chấp nhận thực tại của truyền thống Wabi Sabi.

    Kế tiếp là Tadao Ando và Toyo Ito, hai tác giả mà sáng tạo của họ mang tinh thần “Nhật Bản” nhất mặc dù mang hai khuynh hướng sáng tạo khác nhau: Trầm tĩnh, suy tưởng và nhẹ nhàng, siêu thoát.

    Tadao Ando kế thừa và chuyển tải tinh thần Wabi Sabi trong các công trình của mình bằng năng lực sáng tạo bản năng và trực cảm đặc biệt. Không gian sáng tạo của Tadao Ando “hướng nội”, được đặc trưng bởi ánh sáng và bóng tối. Vẻ đẹp, chiều sâu và sức cộng hưởng của bóng tối đánh dấu bản sắc văn hóa Nhật Bản-Wabi Sabi. Ông nói: “Tôi luôn tìm kiếm để đạt được một không gian mà ở đó gợi lên tinh thần của con người, nơi sẽ đánh thức sự nhạy cảm và có thể chạm tới chiều sâu của tâm hồn”. “Tôi hy vọng những tác phẩm của mình có thể “đối thoại” với mọi khách hàng, có thể làm mới cảm giác cho họ”.

    Với Toyo Ito, kiến trúc của ông sử dụng vật liệu công nghệ cao, có hình thức “nhẹ nhàng, siêu thoát”, “mộng mơ, trữ tình” và ”tươi mát, sáng sủa”, nhưng điều lạ kỳ là Toyo Ito vẫn được xem là một KTS “rất truyền thống” và “rất Nhật Bản”. Triết lý sáng tạo xem trọng tính tạm thời, chấp nhận thực tại và trân trọng trật tự vũ trụ từ các gợi ý từ thiên nhiên của Toyo Ito phản ánh tinh thần truyền thống Wabi Sabi trong bối cảnh kỹ thuật hiện đại, ông chọn đề cao khoảnh khắc hoa anh đào, hình thức mong manh hư ảo, khái niệm khoảng trống, hình thành nên không gian kết nối con người và tự nhiên, gợi ý hình ảnh một vũ trụ không ngừng vận động.

    Nông trại Grace, New Canaan, USA , KTS Sejima Kazuyo và Nishizawa Ryue, Nguồn: http://www.pinterest.com
    Tiếp theo là Sejima Kazuyo và Nishizawa Ryuecủa của SANAA, với những ý nghĩa “mỏng manh nhẹ nhàng, xuyên suốt và phi vật liệu” kiến trúc của họ được đánh giá là biểu tượng cho cuộc sống hiện tại. Trong kiến trúc của họ, mọi thứ dường như “xuyên suốt” chỉ còn lại duy nhất không gian mà con người “trở về và hoà trộn” với thiên nhiên trong khi mọi “vỏ bọc” dường như biến mất. Ánh sáng tự do lan toả trong không gian đó tạo nên mảng bóng tối có cường độ gia giảm khác nhau, hình thành những vùng giao thoa bóng râm mang lại sự thanh thản cho con người thụ hưởng, sự cảm nhận bản chất tạm thời nằm trong sự tồn tại của chính chúng ta. Cuối cùng đại diện cho thế hệ kế thừa trẻ nhất là Sou Fujimoto. Thay vì giới thiệu riêng biệt 2 yếu tố: Thế giới tự nhiên và nhân tạo; ông đã làm mờ đi sự khác biệt và phá vỡ những rào cản. Việc xóa đi ranh giới rõ ràng giữa các không gian và cấu trúc đã góp phần làm nên một kiến trúc thuần túy, mang cảm giác hoàn nguyên đầy suy tưởng cho con người trong đó, mối quan hệ Tự nhiên –

    Kiến trúc – Con người được trân trọng, đặt con người trở lại với trạng thái bản nguyên: Tự do và hoà hợp với tự nhiên, cũng là yếu tố thẩm mỹ truyền thống Wabi Sabi trong tâm thức người Nhật.

    Có thể thấy, Nhật Bản là vùng đất “lãng mạn thực dụng”, không uỷ mị, luôn tìm những cách thức mới để biểu lộ tình cảm. Một nền văn hoá trọng tâm vào bốn mùa xuân hạ thu đông, con người ở đó biết rằng cái cũ rồi sẽ trở lại, dưới hình thái mới, sau mỗi năm trôi qua. Một nền văn hoá dựa trên sự vô thường, sự thấu triệt các triết lý được tích luỹ sau nhiều thế kỷ chiến tranh, động đất và núi lửa. Ở Nhật, “cái mới chính là cái cũ – mới”, việc tìm ra cái mới lại mới là truyền thống cổ xưa nhất của Nhật Bản. Trong quan điểm sáng tạo của các thế hệ kiến trúc đương đại Nhật Bản thì sự chuẩn bị cho tương lai đôi khi lại đồng nghĩa với phá huỷ quá khứ nhưng phá huỷ để trở lại với hình thái mới, với cách biểu hiện mới, mang cả tính truyền thống và thời đại.

    Bài học về việc tiếp thu truyền thống văn hóa cho kiến trúc Việt Nam
    Hiện nay, kiến trúc Việt Nam chưa định hình xu hướng kiến trúc đặc thù, kiến trúc phát triển tự phát, quan trọng là thiếu tư duy học thuật. Đã có nhiều nghiên cứu, thể nghiệm nhằm nỗ lực làm cho kiến trúc Việt Nam tiếp cận tinh thần thời đại và truyền tải linh hồn truyền thống nhưng dường như chúng ta vẫn đang dừng lại ở quan niệm tính dân tộc biểu hiện qua các hình thức kiến trúc và loay hoay với phương cách kết hợp, mô phỏng môtif kiến trúc truyền thống vào trong các công trình kiến trúc hiện đại một cách hết sức khiên cưỡng, thiếu đi sự tiếp thu truyền thống từ những giá trị nội hàm tiềm ẩn.

    Người Việt Nam với lối tư duy tổng thể luôn dè chừng khi tiếp thu cái mới, rõ ràng hoàn toàn khác với lối tư duy của người Nhật. Tuy nhiên, trên cơ sở một số điểm tương đồng trong văn hoá truyền thống hai nước, nổi bật là điểm tương đồng quan trọng về tư tưởng thẩm mỹ truyền thống của Việt Nam – Nhật Bản: Yêu cái đẹp giản dị, không phô trương, hoà hợp với thiên nhiên với kho tàng vô vàn những triết lý sống và tư tưởng dân tộc các vùng miền đã được đúc kết từ bao đời trong lịch sử văn hóa người Việt thì quan điểm truyền thống – hiện đại, cái cũ – cái mới của người Nhật là một bài học tư duy sáng tạo có thể học hỏi và áp dụng khi vận dụng các giá trị truyền thống văn hoá vào kiến trúc Việt Nam trong bối cảnh thời đại.

    Ngôi nhà gỗ, Kumamoto, Japan, Sou Fujimoto, Nguồn: http://www.pinterest.com
    Lối tư duy đúng đắn cho kiến trúc Việt Nam hiện nay là kế thừa và phát huy truyền thống bằng cách tiếp cận linh hoạt và cảm “khối đa diện văn hóa truyền thống” theo các chiều kích khác nhau để “chuyển hóa và hồi sinh” tinh tuý cội nguồn với hình thái mới, cách biểu hiện mới tiếp cận tinh thần thời đại. Như Giuseppe Tomasi di Lampedusa đã viết trong tiểu thuyết nổi tiếng The Leopard: “If we want things to stay as they are, things will have to change.” (“Nếu chúng ta muốn mọi thứ giữ nguyên như chúng đã từng, mọi thứ sẽ phải thay đổi”)

  11. Ý tưởng thiết kế biến cửa hàng phân phối của Apple thành một “Quảng trường thành phố” và đồng thời đóng góp như một di sản ấn tượng cho thành phố. Cửa hàng Apple Piazza Liberty đem lại cho thành phố Milan một quảng trường công cộng mới, nơi người dân địa phương và du khách có thể tụ tập và thưởng ngoạn quang cảnh đài phun nước đầy hoành tráng này. Phần cửa hàng được thiết kế chìm phía dưới và được trang bị một hệ thống đồ nội thất không gian rộng rãi, đầy ánh sáng và những cây cảnh quan vươn chồi lên mặt đất.

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)
    Nằm gần Corso Vittorio Emanuele, một trong những con phố đi bộ nổi tiếng nhất trong thành phố, Apple Piazza Liberty thu hút sự chú ý của người dân địa phương cũng như khách du lịch với đài phun nước tuyệt đẹp được tạo thành từ hai hồ bơi thẳng đứng với hệ thống phản lực dọc hỗ trợ. Du khách có thể quan sát đài phun nước từ các thềm đá rộng lớn của Amphitheatre dẫn xuống cửa hàng Apple chìm phía dưới hoặc đi xuyên qua đài phun nước cao gần 8m với nhạc nước và tầm nhìn ấn tượng.

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)
    Trong thông cáo báo chí, các KTS giải thích: “Đó là một sự giải trí đầy sống động của những trò chơi thời thơ ấu khi chạy qua đài phun nước, những trải nghiệm thú vị được thay đổi liên tục trong ngày khi mặt trời chiếu qua nước. Trong khi vào ban đêm, trần thủy tinh tạo ra hiệu ứng vạn hoa phản xạ lại hiệu ứng vô tận trên bầu trời ”. Stefan Behling, Trưởng phòng thiết kế của Foster + Partners, cho biết thêm: “Đài phun nước là biểu tượng của sự hào hứng giống như cách trẻ con kể với từng người chúng ta. Trong sự đơn giản của nó, nó vang vọng ý tưởng lớn hơn khi bước vào một đài phun nước to lớn với tận hưởng niềm vui cuộc sống. ”

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)

    (Image: Nigel Young/ Foster + Partner)
    Hiệu ứng thác nước có thể được nhìn thấy từ phía dưới, bên trong không gian của Amphitheatre . Các bậc thang Amphitheatre và quảng trường bao quanh được lát bằng Beola Grigia, một loại đá địa phương từ Lombardy, và hàng cây Gleditisia Sunburst hai bên. Bên trong, nội thất được “ẩn dụ chạm khắc từ cùng một loại đá dành cho quảng trường trên,” với những nhịp trần và hệ cửa sổ mái cho phép ánh sáng tự nhiên xuyên qua.

Leave a Comment.